Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀNG MAI

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số 28/2024/HS-ST

Ngày 19 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hướng

Nơi công tác: Hội Nông dân phường Quỳnh Dị.

Ông Hồ Văn Hữu.

Nơi công tác: Bí thư Đoàn phường Quỳnh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cao Trọng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Văn Thị Thu Hường - Kiêm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 6 năm 2024; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với:

- Các bị cáo:

  1. Bạch Trọng V, sinh ngày 11 tháng 8 năm 2005, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Trọng H (đã chết) và bà Hồ Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đến ngày 15 tháng 6 năm 2024; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 04 tháng 11 năm 2005, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Đánh cá biển; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/9/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  3. Lê Hải Đ1, sinh ngày 26 tháng 7 năm 2006, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Đánh cá biển; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/3/2023, bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “gây mất trật tự công cộng” (đã chấp hành ngày 04/4/2023); bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  4. Hồ Phúc T2, sinh ngày 01 tháng 01 năm 2007, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Phúc K và bà Phan Thị T3; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/9/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày 07/7/2023, bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân” (chấp hành xong ngày 17/7/2023); bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  5. Hồ Văn T4, sinh ngày 18 tháng 01 năm 2007, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Đánh cá biển; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T5 và bà Nguyễn Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 21/9/2023, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.
  6. Hoàng Long V1, sinh ngày 14 tháng 9 năm 2006, tại thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Đánh cá biển; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn M1 và bà Phan Thị X; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện cho bị cáo Lê Hải Đ1: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người đại diện cho bị cáo Hồ Phúc T2: Bà Phan Thị T3, sinh năm 1976; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người đại diện cho bị cáo Hồ Văn T4: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1985; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người đại diện cho bị cáo Hoàng Long V1: Bà Đậu Thị N1, sinh năm 1960; nơi cư trú: Khối Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Hải Đ1, Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4, Hoàng Long V1: Bà Phan Thị T6 – Là Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Anh Phạm Đình H1, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Thế D, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị T7, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Vũ Văn T8, sinh năm 1998; nơi cư trú: K, phường Q, thị xã H, Nghệ An.
  • + Anh Hồ Bảo V2, sinh ngày 24/10/2006; nơi cư trú: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  • + Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 2005; nơi cư trú: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
  • + Anh Nguyễn Chí B, sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + Anh Nguyễn Văn T9, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + Anh Lê Văn M2, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + Anh Phan Anh Đ2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hà Tĩnh.
  • + Anh Phạm Đình H2, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.

(Người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/5/2024, tại quán B2 (thuộc khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An), Nguyễn Văn Đ, Hồ Phúc T2, Lê Hải Đ1, Bạch Trọng V, Hồ Văn T4, Hoàng Long V1, anh Hồ Bảo V2, anh Hoàng Văn H3, anh Hoàng Văn B1, anh Nguyễn Văn P ăn uống với nhau. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, Đ chở V và P qua quán K1 (thuộc khối T, phường Q, thị xã H) để hát rồi Đ quay lại quán B2 ăn uống tiếp. V, P vào quán Karaoke trước, hát tại phòng hát số 02. Sau đó T2, H3 đến quán và vào phòng hát số 02 cùng V, P. Khoảng 10 phút sau, H3 quay lại quán B2 đón Đ. V, T2 ra ngoài thì gặp anh Nguyễn Chí B và anh Phan Anh Đ2 thì mời B và Đ2 vào phòng hát số 02 để giao lưu, khoảng 05 phút sau thì B, Đ2 mời V, T2 vào phòng hát số 03 để giao lưu. Phòng số 03 có anh Phạm Đình H1, anh Lê Văn M2, anh Nguyễn Văn T9, anh Phạm Đình H2, anh Nguyễn Chí B và anh Phan Anh Đ2.

Khi Bạch Trọng V, Hồ Phúc T2 vào phòng hát số 03 thì anh Phạm Đình H1 không biết V, T2 là ai nên anh H1 cầm cổ áo V đẩy ra khỏi phòng hát. V bức xúc nên dùng tay đấm vào mặt anh H1, T2 cũng lao vào đòi đánh đấm anh H1 nhưng được mọi người can ngăn. Lúc này H2 chở Đ đến quán hát thì Đ thấy V, T2 đòi đánh anh H1, Đ hỏi T2 "mần răng đó", T2 không nói gì nhưng Đ vẫn xông vào dùng tay phải đấm trúng vào vùng đầu anh H1. Sau khi được mọi người can ngăn, Đ đi bộ sang quán Sông Q gọi thêm Lê Hải Đ1, Hoàng Long V1, Hồ Văn T4 sang quán hát. Khi T4, Đ, Đ1, V1 sang quán hát thì T2 đang tiếp tục lao vào chửi bới, đòi đánh anh H1 và bị mọi người can ngăn, đẩy ra. Thấy vậy, T4 nắm cổ áo kéo anh H1 ra khu vực vỉa hè phía trước quán Karaoke thuộc đường tỉnh lộ 537B, là khu vực có nhiều nhà dân, cơ sở kinh doanh, có đông người dân tham gia giao thông. Trong quá trình kéo anh H1, T4 dùng tay phải đấm một phát trúng vào phía sau đầu anh H1. Lúc này, V, Đ1, V1, T4 lao vào dùng tay không đánh đấm anh H1, Đ nhặt 01 (một) cục đá ở vỉa hè đánh vào đầu anh H1 02 (hai) phát gây thương tích (tỷ lệ tổn thương cơ thể 01%). Sau đó, Đ1 nói với Đ về lấy dao (nghĩa là lấy dao để chém anh H1) thì Đ đồng ý. Đ1 điều khiển xe mô tô chở Đ về nhà chị Nguyễn Thị T7, Đ1 đi vào nhà chị T7 lấy 02 (hai) con dao, để 01 (một) con dao ở dưới yên xe rồi ngồi lên, đưa 01 (một) con dao cho Đ cầm rồi Đ1 chở Đ quay lại quán Karaoke Việt H4. Khi đến quán K1, Đ nhảy xuống xe, cầm dao chạy đến để đuổi đánh anh H1 thì V giật dao từ tay Đ và cầm dao chạy lại đuổi đánh anh H1 thì bị mọi người ngăn cản. Đ1 dừng xe mô tô và lấy dao từ dưới yên xe ra, đi lại để đuổi đánh anh H1 thì thấy lực lượng Công an nên Đ1 bỏ chạy và ném dao xuống sông H.

Hành vi chửi bới, dùng hung khí là đá và dao đánh nhau kéo dài từ khoảng 22 giờ 20 phút đến 22 giờ 45 phút ngày 05/5/2024. Thời điểm đó quán K1 có 03 phòng đang hát và khoảng hơn 20 người khách. Hành vi diễn ra từ khu vực trước cửa phòng hát số 02 và 03, kéo ra đến trước khu vực vỉa hè và phía dưới lòng đường trước quán K1 thuộc đường tỉnh lộ 537B, là khu vực có nhiều nhà dân, cơ sở kinh doanh, có đông người dân tham gia giao thông đã gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân xung quanh, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của quán Karaoke Việt H4, gây lộn xộn, mất an ninh trật tự khu vực.

Trong các ngày 05/5/2024, 07/5/2024, anh Phạm Đình H1 và anh Nguyễn Thế D đã đến Công an phường Q, thị xã H trình báo về vụ việc. Ngày 08/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn Đ, Bạch Trọng V, Hồ Văn T4, Hồ Phúc T2; tiến hành làm việc với Hoàng Long V1. Cùng ngày, Lê Hải Đ1 đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đầu thú về hành vi của mình.

Cáo trạng số 35/CT-VKS-HM ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố các bị cáo Bạch Trọng V, Nguyễn Văn Đ, Lê Hải Đ1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 318 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4, Hoàng Long V1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại khoản 1, Điều 318 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng; luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Bạch Trọng V, Nguyễn Văn Đ, Lê Hải Đ1, Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4, Hoàng Long V1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Lê Hải Đ1, Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4, Hoàng Long V1 không có ý kiến tranh luận gì.

Người bào chữa cho các bị cáo Lê Hải Đ1, Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4, Hoàng Long V1: Không có ý kiến gì về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất, mức độ, hành vi của các bị cáo; các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo để xem xét giảm nhẹ ở mức thấp nhất so với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo đã nhận thức được hành vi cảu mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Vì vậy, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo được cải tạo tại địa phương, có cơ hội sửa chữa, khắc phục những sai lầm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo đúng quy định.

[3] Về tội danh và khung hình phạt: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:

Từ khoảng 22 giờ 20 phút đến 22 giờ 45 phút ngày 05/5/2024, tại quán K1 (thuộc khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An), Bạch Trọng V, Nguyễn Văn Đ, Lê Hải Đ1, Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4, Hoàng Long V1 đã có hành vi chửi bới, dùng tay không đánh, đá, dùng dao đuổi đánh anh Phạm Đình H1 từ khu vực bên trong và vỉa hè quán Karaoke thuộc đường tỉnh lộ 537B, là khu vực có nhiều nhà dân, cơ sở kinh doanh, có đông người dân tham gia giao thông, gây hoang mang, lo sợ cho người dân, gây ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của quán K1 và các hộ kinh doanh khác, gây mất an ninh trật tự khu vực. Trong đó, Nguyễn Văn Đ dùng cục đá đánh 02 phát vào đầu anh H1 gây thương tích 1% cho anh H1; Bạch Trọng V, Nguyễn Văn Đ, Lê Hải Đ1 sử dụng dao đuổi đánh anh H1 nhưng chưa gây thương tích.

Vì vậy, hành vi của các bị cáo Bạch Trọng V, Nguyễn Văn Đ và Lê Hải Đ1 đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4 và Hoàng Long V1 đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Về hình phạt chính: Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi gây rối trật tự công cộng của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến trật tự chung tại nơi công cộng, nên cần thiết phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng mang tính giản đơn, do đó khi quyết định hình phạt, cần phải xem xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất tham gia và mức độ tham gia của từng người đồng phạm; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng người đồng phạm.

Bị cáo Bạch Trọng Vinh tích cực thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo là người dùng tay đấm vào mặt anh H1, cùng với các bị cáo khác dùng tay không đánh anh H1; bị cáo là người cầm dao đuổi đánh anh H1, do đó bị cáo phải chịu hình phạt nghiêm khắc hơn so với các bị cáo khác.

Vai trò thứ hai thuộc về bị cáo Nguyễn Văn Đ; bị cáo tích cực thực hiện hành vi phạm tội, dùng tay không đấm vào vùng đầu anh H1, bị cáo trực tiếp dùng đá đánh vào đầu anh H1 02 phát gây thương tích 1% cho anh H1, sau đó dùng dao để tiếp tục truy đuổi anh H1.

Vai trò tiếp theo thuộc về Lê Hải Đ1, bị cáo sau khi có xảy ra xô xát đã nói với Đ về lấy dao và chở Đ đi lấy dao và cùng với V, Đ đuổi đánh anh H1.

Các bị cáo Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4, Hoàng Long V1 tham gia với vai trò thứ yếu, các bị cáo chửi bới, dùng tay đánh vào người anh Phạm Đình H1.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Hoàng Long V1 có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Bạch Trọng V có ông Bạch Trọng N2 là người có công được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất, ông Bạch Trọng H5 được UBND tỉnh N tặng Bằng khen vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; bị cáo Lê Hải Đ1 có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Đầu thú” được quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét bị cáo Bạch Trọng Vinh, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; nhân thân tốt; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ, Hồ Phúc T2, Hồ Văn T4, là người có nhân thân xấu; bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách của án treo, mặc dù bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội và không được coi là có án tích theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 170 của Bộ luật Hình sự, nhưng cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tiếp tục giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Vì vậy, cần áp dụng khoản 5 điều 65 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt, chuyển hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 48/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An thành hình phạt tù và buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.

Bị cáo Lê Hải Đ1, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã phối hợp với gia đình tự nguyện bồi thường; bị cáo tự nguyện ra đầu thú. Vì vậy, không cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Mặt khác, các bị cáo Lê Hải Đ1, Hồ Phúc T2, Hồ Phúc T10 và Hoàng Long V1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, độ tuổi mà bắt đầu có sự thay đổi về tâm sinh lý, chưa nhận thức được đầy đủ về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi của mình gây ra; dễ bị tác động, ảnh hưởng từ môi trường sống; việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Vì vậy, cần áp dụng nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện đúng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

[5]. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra giữa các bên gây thương tích và người bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong và không có ai yêu cầu bồi thường thiệt hại gì khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: 01 (một) hòn đá hình dạng lồi lõm, màu xám có kích thước 2,6cm x 4,5cm; 01 (một) con dao có cán cầm bằng gỗ, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có kích thước dài 33cm. Đây là vật chứng của vụ án, vì vậy cần tịch thu, tiêu hủy.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9]. Đối với hành vi gây thương tích 01% (một phần trăm) cho anh Phạm Đình H1; tuy nhiên, anh H1 đã có đơn xin rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, gia đình các bị cáo và anh H1 đã thoả thuận, hoà giải với nhau nên không xem xét, xử lý các bị can về hành vi trên.

Đối với các anh Hồ Bảo V2, Hoàng Văn H3, Hoàng Văn B1, Nguyễn Văn P, Phạm Đình H1, Nguyễn Chí B, Nguyễn Văn T9, Phạm Đình H2, Lê Văn M2, Phan Anh Đ2 là những người có mặt tại nơi xảy ra vụ việc đánh nhau nhưng không có hành vi cổ vũ, xúi gục, giúp sức, tham gia đánh nhau nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với việc Lê Hải Đ1 và Nguyễn Văn Đ vào nhà lấy 02 (hai) con dao để đi đánh nhau thì chị Nguyễn Thị T7 không biết nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Bạch Trọng V, Nguyễn Văn Đ, Lê Hải Đ1, Hồ Phúc T2, Hồ Phúc T10, Hoàng Long V1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
    • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Bạch Trọng Vinh 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 48 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 19 tháng 7 năm 2024.
    • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38; khoản 5, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 48/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An thành hình phạt tù và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 54 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08 tháng 5 năm 2024.
    • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Điều 65, Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lê Hải Đ1 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 19 tháng 7 năm 2024.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Khoản 5, Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Phúc T2 04 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 48/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An thành hình phạt tù và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 16 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08 tháng 5 năm 2024.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 38; Khoản 5, Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hồ Văn T4 04 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án số 48/2023/HS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An thành hình phạt tù và buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 31 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 08 tháng 5 năm 2024.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 58; Điều 36; Điều 90; Điều 91; Điều 100 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Hoàng Long V1 09 tháng cải tạo không giam giữ; thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

    Giao bị cáo Hoàng Long V1 cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Q trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

    Giao bị cáo Bạch Trọng Vinh, Lê Hải Đ1 cho Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
  3. Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) hòn đá hình dạng lồi lõm, màu xám có kích thước 2,6cm x 4,5cm; 01 (một) con dao có cán cầm bằng gỗ, phần lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, có kích thước dài 33cm.

    (Đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An và Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An).

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Bạch Trọng V, Nguyễn Văn Đ, Lê Hải Đ1, Hồ Phúc T2, Hồ Phúc T10, Hoàng Long V1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật/.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Bị cáo;
  • - Chi cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - Công an thị xã Hoàng Mai;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND phường Quỳnh Phương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về hình sự về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bạch Trọng V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger