|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19/7/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN |
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/Ông Đoàn Minh Trung
- 2/Bà Huỳnh Thị Minh Hải
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thoang- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Tùng- Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự;
Nguyên đơn: Chị Phan Thị Lệ H, sinh năm 1999
Trú tại: Thôn Q, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Bị đơn: Anh Nguyễn Rạng Đ, sinh năm 1999;
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện do chị Phan Thị Lệ H viết ngày 29/02/2024, trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa chị H trình bày: Vào năm 2020 chị H và anh Nguyễn Rạng Đ kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống bình thường ở phía gia đình chồng, đến tháng 6/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn lý do anh Đ hay nhậu nhẹt, cờ bạc nhiều lần chị H có khuyên bảo nhưng anh Đ nghe mà còn đánh đập, hơn nữa anh Đ đi làm về không đưa tiền cho vợ nên từ tháng 7/2023 chị H đã về nhà cha, mẹ ruột ở cho đến nay, vợ chồng không còn sống chung, không ai quan tâm đến ai. Nay chị H không còn tình cảm với anh Đ nên yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 01/3/2022. Ly hôn, chị H xin nhận nuôi con, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Theo biên bản xác minh ngày 30/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, ông Nguyễn Công S (cha đẻ anh Nguyễn Rạng Đ) trình bày có nội dung: Vào năm 2020, gia đình có tổ chức lễ cưới cho anh Nguyễn Rạng Đ và chị Phan Thị Lệ H, sau khi cưới thì Đ và H sinh sống với gia đình chồng. Đến năm 2023, anh Đ có gây nợ nần nên vợ chồng kình cãi, mặc dù đã được gia đình hòa giải nhưng chị H không đồng ý trở lại chung sống với anh Đ, nhiều lần Tòa án có gửi giấy triệu tập và các Thông báo cho anh Đ về việc chị H xin ly hôn nhưng anh Đ đang đi làm xa nên gia đình ông S có báo lại cho anh Đ biết nhưng có trả lời “Hoa muốn gì muốn”. Về con chung vợ chồng anh Đ, chị H có một con chung tên Nguyễn Bảo Q, sinh năm 2002, hiện nay đang sống với chị H.
Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa đã triệu tập hợp lệ và mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Đ vắng mặt và Tòa án đã tiến hành lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nêu quan điểm giải quyết vụ án; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Phan Thị Lệ H được ly hôn với anh Nguyễn Rạng Đ; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 01/3/2022 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị H và không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa không xét. Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Rạng Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên toà nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Lệ H và anh Nguyễn Rạng Đ tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2020 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, lý do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và không còn sống chung với nhau. Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa nhiều lần đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn nhưng anh Đ không đến Tòa để thể hiện thiện chí đoàn tụ. Xét thấy, hôn nhân giữa chị H và anh Đ đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn anh Đ.
[3]Về con chung: Chị Phan Thị Lệ H và anh Nguyễn Rạng Đ có một con chung là Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 01/3/2022. Ly hôn chị H xin nhận nuôi con. Xét thấy, cháu Q còn nhỏ và đang ở với chị H. Do đó, để đảm bảo sự phát triển ổn định cuộc sống như lâu nay nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị H, giao cháu B cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.
[4] Về tài sản chung: Chị Phan Thị Lệ H không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.
[5] Về án phí: Chị Phan Thị Lệ H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ-ST.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Tuyên xử.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn, cho chị Phan Thị Lệ H được ly hôn với anh Nguyễn Rạng Đ.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo Q, sinh ngày 01/3/2022 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị H không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa không xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Chị Phan Thị Lệ H không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chị Phan Thị Lệ H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí HNGĐ-ST. Được khấu trừ số tiền chị H đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010354 ngày 22/3/2024 của cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Sơn |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 19/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chi Phan Thị lệ Hoa xin Ly hôn anh Đ
