TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC TỈNH SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ- ST Ngày: 19-4-2024 V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lò Mai Xiêng.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lý Thị Vinh
- Ông Phạm Ngọc Thiệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tiến Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 76/2024/TLST - HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Cà Thị H, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Bản Bon, xã Mường Khiêng, huyện TC, tỉnh Sơn La.
( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Là Văn P, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Bản Sinh Lẹp, xã Mường Khiêng, huyện TC, tỉnh Sơn La.
( Vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Cà Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị Cà Thị H và anh Là Văn P kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 01/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Mường Khiêng, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trầm trọng kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Cà Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị ly hôn với anh Là Văn P.
Về con chung: Chị Cà Thị H và anh Là Văn P có 02 (hai) con chung là cháu Là Văn Tuấn, sinh ngày 24/9/2013 và cháu Là Văn Khải, sinh ngày 05/7/2011. Hiện tại cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải đang sống chung với anh Là Văn P.
Chị Cà Thị H đề nghị giao cả hai cháu Là Văn Tvà Là Văn Khải cho anh Là Văn P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cà Thị H không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Cà Thị H cam đoan không có nợ chung.
Tại bản tự khai và đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Là Văn P trình bày:
Về hôn nhân: Anh Là Văn P và chị Cà Thị H kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 01/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Mường Khiêng, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, vợ chồng không có tiếng nói chung. Anh Là Văn P và chị Cà Thị H đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Anh Là Văn P xác định tình cảm vợ chồng không còn, nhất trí ly hôn chị Cà Thị H.
Về con chung: Anh Là Văn P và chị Cà Thị H có 02 (hai) con chung là cháu Là Văn Tuấn, sinh ngày 24/9/2013 và cháu Là Văn Khải, sinh ngày 05/7/2011. Hiện tại cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải đang sống chung với anh Là Văn P. Anh Là Văn P có nơi cư trú ổn định, có thu nhập. Anh Là Văn P đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai cháu Là Văn Tcháu và cháu Là Văn Khải.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Là Văn P không yêu cầu chị Cà Thị H cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Anh Là Văn P cam đoan không có nợ chung.
Đương sự không cung cấp thêm tại liệu, chứng cứ cho Tòa án, không có ý kiến gì về các chứng cứ do các đương sự xuất trình và không yêu cầu triệu tập đương sự khác, người tham gia tố tụng khác.
Chị Cà Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Chị Hoán giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến trong bản tự khai.
Anh Là Văn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt: Anh Phóng giữ nguyên ý kiến trong bản tự khai.
Tại biên bản xác minh ngày 29/3/2024: Tại bản Sinh Lẹp, xã Mường Khiêng, huyện TC, tỉnh Sơn La. Chị Cà Thị H, anh Là Văn P có nơi cư trú ổn định. Quá trình chung sống với nhau có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn không nắm được. Hiện tại chị Cà Thị H, anh Là Văn P đã sống ly thân. Chị Cà Thị H và anh Là Văn P 02 (hai) con chung là cháu Là Văn Tuấn, sinh ngày 24/9/2013 và cháu Là Văn Khải, sinh ngày 05/7/2011. Hiện tại cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải đang sống chung với anh Là Văn P. Tài sản chung, nợ chung: Không nắm được.
Tại biên bản ghi ý kiến, cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải đều có nguyện vọng là ở với bố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện TC phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: Kể từ khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án cho đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa Hội đồng xét xử tham gia đúng thành phần trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, các trình tự của phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định pháp luật.
Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị H được ly hôn anh Là Văn P.
Về con chung: Giao cháu Là Văn Tuấn, sinh ngày 24/9/2013 và cháu Là Văn Khải, sinh ngày 05/7/2011 cho anh Là Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cà Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung (anh Là Văn P không yêu cầu).
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản riêng: Không có.
Về nợ chung: Chị Cà Thị H, anh Là Văn P cam đoan không có nợ chung.
Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Cà Thị H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Cà Thị H yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn anh Là Văn P có địa chỉ tại bản Sinh Lẹp, xã Mường Khiêng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân huyện TC, tỉnh Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của nguyên đơn chị Cà Thị H, bị đơn anh Là Văn P: Nguyên đơn chị Cà Thị H, bị đơn anh Là Văn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Cà Thị H và anh Là Văn P kết hôn với nhau, đăng ký kết hôn ngày 01/12/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Mường Khiêng, huyện TC, tỉnh Sơn La, kết hôn tự nguyện, sau khi kết hôn đến năm 2022 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên xảy ra cãi vã, hôn nhân gia đình trở nên bế tắc, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Cà Thị H và anh Là Văn P đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm tới cuộc sống của ai. Chị Hoán cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn anh Là Văn P. Anh Là Văn P nhất trí ly hôn.
Trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ, bản tự khai, biên bản xác minh tại chính quyền địa phương.
Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoán và anh Phóng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, xử cho chị Cà Thị H được ly hôn anh Là Văn P. Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung: Chị Cà Thị H và anh Là Văn P có 02 (hai) con chung là cháu Là Văn Tuấn, sinh ngày 24/9/2013 và cháu Là Văn Khải, sinh ngày 05/7/2011. Hiện tại cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải ở cùng với anh Phóng. Chị Cà Thị H nhất trí để anh Là Văn P được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải, chị Hoán không cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Là Văn P có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả hai cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải, anh Phóng không yêu cầu chị Hoán cấp dưỡng nuôi con chung.
Ý kiến cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải đều có nguyện vọng là ở với bố.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp, tài liệu thu thập của Toà án: Chị Hoán, anh Phóng đều có nơi cư trú ổn định, hiện nay làm trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán tự do, có thu nhập. Hiện tại cháu Là Văn Tvà cháu Là Văn Khải đang ở với anh Phóng.
Từ các căn cứ nêu trên xét thấy: Căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần, cần giao cháu Là Văn Tuấn, sinh ngày 24/9/2013 và cháu Là Văn Khải, sinh ngày 05/7/2011 cho anh Là Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Cà Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung (anh Là Văn P không yêu cầu).
Căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[5] Về tài sản riêng: Không có.
[6] Về nợ chung: Chị Cà Thị H, anh Là Văn P cam đoan không có nợ chung.
[7] Về án phí: Chị Cà Thị H có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm, xét thấy chị Cà Thị H là người dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Cà Thị H.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Cà Thị H được ly hôn anh Là Văn P.
- Về con chung: Giao cháu Là Văn Tuấn, sinh ngày 24/9/2013 và cháu Là Văn Khải, sinh ngày 05/7/2011 cho anh Là Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cà Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung (anh Là Văn P không yêu cầu).
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản riêng: Không có.
- Về nợ chung: Chị Cà Thị H và anh Là Văn P cam đoan không có nợ chung.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch cho nguyên đơn chị Cà Thị H. Hoàn trả lại chị Cà Thị H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số: 0000982, ngày 21 tháng 02 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện TC, tỉnh Sơn La.
- Về quyền kháng cáo: Chị Cà Thị H, anh Là Văn P được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lò Mai Xiêng |
Bản án số 28/2024/HNGĐ- ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TC, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử cho ly hôn
