|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-PT
Ngày 18/6/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Bình
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng và bà Đinh Thị Như Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 45/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Trương Đình Phong B và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo:
Trương Đình Phong B (tên gọi khác: không), sinh ngày: 04/7/1979 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; CCCD số [...] do Bộ C1 cấp ngày 04/11/2022; Con ông Trương Đình C (đã chết) và con bà Phạm Thị Bích V, sinh năm 1960; Có vợ là Trần Thị Xuân P, sinh năm 1982. Bị cáo có có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Anh Phan L, sinh năm: 1982; Trú tại: Thôn B, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Chị Võ Thị Á, sinh năm: 1990; trú tại: Thôn B, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 09/6/2020 và ngày 04/7/2020, chị Võ Thị Á 02 lần đến nhà vợ chồng Trương Đình Phong B và Trần Thị Xuân P tại Thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để vay tổng số tiền 9.300.000 đồng mục đích chữa bệnh cho con và hẹn đến mùa cà phê năm 2020 (khoảng tháng 12/2020) thì chị Á trả cho P 400kg cà phê nhân khô (với giá cà phê nhân khô tại thời điểm tháng 6 là 23.000đ/01kg và thời điểm tháng 7 là 23.500đ/01kg). Những lần vay tiền của vợ chồng B thì chị Á đều nói lại cho anh Phan L là chồng chị Á biết. Đến mùa cà phê năm 2020, vợ chồng chị Á và anh L thu hoạch cà phê nhưng không trả nợ cho P mà dùng số tiền bán cà phê trả các khoản nợ khác và chi tiêu sinh hoạt hết. Vợ chồng P, B nhiều lần đến yêu cầu trả nợ nhưng vợ chồng chị Á xin gia hạn nên P đồng ý gia hạn nợ cho vợ chồng chị Á đến mùa cà phê năm 2021 (tức khoảng tháng 12/2021) thì vợ chồng chị Á phải trả 2.986kg cà phê quả tươi chị Á đồng ý và ký xác nhận vào sổ ghi nợ, nhưng anh L cho rằng nếu trả như vậy thì lãi xuất quá cao nên không đồng ý mà chỉ đồng ý trả 400kg cà phê nhân khô.
Đến cuối năm 2021, vợ chồng chị Á và anh L thu hoạch cà phê nhưng không trả nợ. Vợ chồng P đến đòi nợ thì Á trả cho P số tiền 2.000.000 đồng tiền lãi và xin gia hạn nợ, P đồng ý gia hạn nợ cho vợ chồng chị Á đến mùa cà phê năm 2022 (tức khoảng tháng 12/2022) thì vợ chồng chị Á phải trả cả gốc và lãi là 4.000kg cà phê quả tươi, chị Á đồng ý và ký tên xác nhận vào sổ ghi nợ nhưng anh L không đồng ý. Sau đó, vào tháng 11/2022, vợ chồng P, B đến gặp vợ chồng Á, L để đòi nợ nhưng anh L không đồng ý trả 4.000kg cà phê quả tươi mà chỉ đồng ý trả 400kg cà phê nhân khô như thoả thuận khi vay tiền trước đó và hẹn phơi cà phê xong sẽ trả.
Khoảng 14 giờ ngày 03/12/2022, Trương Đình P1 B gọi N, K, Y đi thu mua cà phê cùng với B thì N, K và Y đồng ý. Lúc này, N, K, Y không biết là đi đòi nợ nên cầm theo 10 cái bao, 01 cái xúc cà phê bằng kim loại và 01 cái cân đồng hồ bỏ lên thùng xe tải. Sau đó, B điều khiển xe tải biển số 24N – 6943 chở N và K còn Y điều khiển xe mô tô biển số 81B2 – 470.81 đi theo xe tải đến nhà vợ chồng Á, L. Khi đến nơi, B điều khiển xe ô tô tải chở N và K đi vào sân, Y điều khiển xe mô tô dừng ở cổng nhà chị Á. Lúc này, L và Á đang làm ở vườn cà phê sát cạnh nhà thấy B đến nên Á đi lên thì B yêu cầu Á trả nợ nếu không thì B sẽ hốt cà phê để trừ nợ lúc này N, K, Y biết mục đích B chở đi đến đây để đòi nợ. Chị Á không đồng ý trả nợ ngay mà xin để phơi khô cà phê rồi xay nhân trả cho B 400kg nhưng B không đồng ý và yêu cầu vợ chồng Á phải trả cho B 4.000kg cà phê quả tươi nên hai bên xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, B cầm 01 cái ống sắt có mũi vát nhọn đứng chửi bới và yêu cầu phải trả nợ. Khoảng 05 phút sau, anh L cầm theo 01 cái kéo cắt cành và 01 con dao từ vườn cà phê đi lên đe
dọa N, K và Y không được hốt cà phê. Thấy vậy, B đi lại xe ô tô tải bỏ ống sắt vào xe rồi lấy 01 cái roi mây và xông về phía L đe doạ thách thức L chém nhưng L không chém.
Sau đó, B gọi điện thoại nói vợ là Trần Thị Xuân P đem sổ ghi nợ đến để giải quyết. Khi P chưa đến thì B và vợ chồng chị Á tiếp tục cự cãi nhau một lúc thì L đi vào nhà ngồi lấy điện thoại di động bật chế độ quay phim và đưa cho cháu Phan Hoàng K1 (sinh năm 2015 - con trai L) cầm, quay video để ghi nhận sự việc. B bực tức việc L cầm dao đe doạ nên B cầm roi mây xông vào đòi đánh L nhưng được Á cản lại.
Một lúc sau, P điều khiển xe mô tô biển số 81C1 – 124.55 đến và nói N, K, Yum hốt cà phê, không cần sự đồng ý của Á. Nânh, K và Y biết vợ chồng L, Á không đồng ý nhưng vẫn cầm 01 cái xúc và 10 cái bao đi vào sân hốt cà phê, P cột các bao cà phê còn B đứng ở sân theo dõi. Ánh bực tức đứng ở sân chửi B, P và nói báo Công an xã nhưng P thách thức và nói “cho mày báo đó” rồi tiếp tục hốt cà phê. Sau khi hốt hết đống cà phê ở hông nhà, K lấy cân đồng hồ ở thùng xe tải xuống để cân các bao cà phê vừa hốt được cho P ghi chép vào sổ rồi vác lên thùng xe tải (tổng cộng hốt được 08 bao, khối lượng 294kg). Sau đó, B, P, N, K, Y tiếp tục hốt cà phê đang phơi ở sân vào bao.
Do hết bao đựng cà phê, B gọi điện cho Bùi Xuân B1 (sinh năm 1998, trú tại thôn H, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) nhờ B1 mua giúp B một ít bao đựng, B1 đồng ý rồi gọi điện thoại cho Nguyễn Long T (sinh năm 2004, trú tại thôn B, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) nhờ T đến thôn B gặp và mua bao cho B. Lúc này, T đang đi chơi cùng Đặng Ngọc Xuân L1 (sinh năm 2005, trú tại Thôn C, xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai) nên T chở L1 cùng đi. Khoảng 16 giờ cùng ngày thì T và L1 đi 01 xe mô tô đến dừng ở cổng nhà chị Á. Khi thấy T đến thì P đưa 100.000 đồng cho T đi mua bao tải. T chở L1 đi mua 15 cái bao tải và 01 cuộn dây may bao đem về đưa cho B rồi đứng ở lề đường trước nhà Á chơi, nói chuyện với B một lúc thì T và L1 đi về.
Sau khi hốt hết số cà phê ở sân vào bao thì N, K và Y tiếp tục bê các bao cà phê lên cân để P ghi chép vào sổ (tổng cộng hốt được 16 bao). Khi hốt hết cà phê ở sân, B tiếp tục nói N, K và Y đi ra chỗ hông nhà hốt tiếp một đống cà phê tươi. Nânh, K và Y hốt được 03 bao cà phê (trong đó: 02 bao đầy và khoảng 1/3 bao màu trắng). Sau khi hốt cà phê xong, N, K và Y bê cà phê lên cân để P ghi vào sổ cộng chung với 16 bao cà phê trước là được 18 bao cà phê tươi đang phơi, khối lượng 975kg.
Sau khi hốt xong cà phê bỏ lên xe ô tô biển số 24N – 6943, P và B nói K điều khiển xe chở N, còn Y điều khiển xe mô tô biển số 81B2 – 470.81 đi ra ngã ba thôn B, xã K đứng đợi. Lúc này, Á đã bỏ đi ra vườn cà phê cạnh nhà nên B gọi lên tính toán nợ. Khi Á đi lên thì P đưa sổ ghi chép việc cân cà phê, yêu cầu
Á xem lại và ký nhận. Sau khi tính toán xong quy ra thành tiền là 34.000.000 đồng và vợ chồng Á còn phải trả cho vợ chồng P 11.250.000 đồng rồi P yêu cầu Á phải ký vào sổ xác nhận. Ánh không đồng ý cho vợ chồng P hốt cà phê để trừ nợ và không đồng ý ký vào sổ. Tuy nhiên, thời điểm đó vợ chồng P đã chở cà phê đi nên Á miễn cưỡng ký vào sổ nợ của P. Sau khi Á ký vào sổ, B điều khiển xe mô tô biển số 81B2 – 124.55 chở P đi ra gặp K, N, Y đang đứng đợi. Khi ra đến nơi, B điều khiển xe ô tô chở N và K; Y điều khiển xe mô tô biển số 81B2 – 470.81; P điều khiển xe mô tô biển số 81B2 – 124.55 đi về sân phơi cà phê của vợ chồng B.
Ngày 06/12/2023, anh Phan L có đơn tố giác hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” của Trương Đình Phong B và đồng phạm đến Công an xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Theo Kết luận định giá tài sản số 109/KL-HĐĐGTS ngày 13/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận: 294kg quả cà phê khô trị giá 6.174.000 đồng và 975kg quả cà phê tươi (đang phơi) trị giá 8.287.500 đồng. Tổng giá trị tài sản là 14.461.500 đồng.
Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKS ngày 24/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai truy tố các bị cáo Trương Đình Phong B, Trần Thị Xuân P, N, K, Y về tội “Cưỡng đoạt đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Căn cứ vào: Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh:
- Tuyên bố các bị cáo Trương Đình Phong B, Trần Thị Xuân P, N, K, Y phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Trương Đình Phong B 01 (Một) năm (H) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày có biên bản bắt thi hành án.
- Áp dụng: khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Xuân P 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 16/4/2024.
Xử phạt: Bị cáo K 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 16/4/2024.
Xử phạt: Bị cáo N 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 16/4/2024.
Xử phạt: Bị cáo Y 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 16/4/2024.
Giao bị cáo Trần Thị Xuân P cho Ủy ban nhân xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo N, K, Y cho Ủy ban nhân xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí, quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
3. Kháng cáo của bị cáo và các bị hại:
- Ngày 19/4/2024, các bị hại anh Phan L và chị Võ Thị Á có đơn kháng cáo xin cho bị cáo Trương Đình Phong B được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
- Ngày 29/4/2024, bị cáo Trương Đình Phong B có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
* Bị cáo Trương Đình Phong B, các bị hại anh Phan L và chị Võ Thị Á giữ nguyên kháng cáo.
* Kiểm sát viên có quan điểm: Sau khi xét xử phúc thẩm, các bị hại tiếp tục có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tình tiết mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Đình Phong B, các bị hại anh Phan L và chị Võ Thị Á, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm cho bị cáo từ 02 (hai) tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Ngày 09/6/2020 và ngày 04/7/2020, chị Võ Thị Á (vợ của anh Phan L) vay của vợ chồng bị cáo Trương Đình Phong B 9.300.000 đồng, hẹn trả vào mùa cà phê năm 2020 (trả bằng cà phê nhân khô). Đến mùa cà phê năm 2020 và năm 2021 sau hai lần xin gia hạn trả nợ nhưng vợ chồng chị Á, anh L vẫn chưa trả nên vào ngày 03/12/2022, Trương Đình P1 B cùng với Trần Thị Xuân P (vợ của B), N, K và Y đi đến nhà vợ chồng chị Á, anh L để đòi nợ. Dù anh L, chị Á không đồng ý trả nợ ngay nhưng vợ chồng B, P dùng hung khí và lời nói đe doạ rồi cùng N, K và Y lấy đi cà phê của gia đình chị Á để trừ nợ với tổng giá trị tài sản là 14.461.500 đồng.
Với hành vi nêu trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Trương Đình Phong B, Trần Thị Xuân P, N, K, Y về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về kháng cáo của bị cáo Trương Đình Phong B và các bị hại Phan L, Võ Thị Á:
Bị cáo Trương Đình Phong B trình bày: Việc phạm tội của bị cáo là bộc phát, không gây hậu quả cho bị hại, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục thiệt hại cho bị hại và bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và có các con nhỏ cần chăm sóc; do đó bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Các bị hại anh Phan L và chị Võ Thị Á có đơn kháng cáo xin cho bị cáo Trương Đình Phong B được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với lý do: Bị cáo B đã nhận thức được lỗi sai, đã xin lỗi và bồi thường cho bị hại, bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo B, hiện nay bị cáo có con nhỏ cần chăm sóc, mức án Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo B là quá nặng.
Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi phạm tội của bị cáo B chỉ vì món nợ nhỏ mà sẵn sàng dùng hung khí và lời nói để uy hiếp, đe doạ nhằm chiếm đoạt tài sản, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm trái phép đến tài sản của các bị hại. Trong đó, bị cáo B đóng vai trò khởi xướng, cầm đầu, là người trực tiếp dùng hung khí và lời nói đe doạ, ép buộc đối với bị hại phải giao tài sản, đồng thời là người trực tiếp chỉ đạo các bị cáo N, K, Y chiếm đoạt tài sản của bị hại.
Bị cáo Trương Đình Phong B phạm tội nghiêm trọng, có khung hình phạt là phạt tù từ từ 01 năm đến 05 năm. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ của hành vi của bị cáo, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ hình phạt như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Để từ đó, xử phạt bị cáo Trương Đình Phong B hình phạt 01 năm 02 tháng tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, sau khi xét xử phúc thẩm, các bị hại tiếp tục có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Đây là tình tiết mới phát sinh tại giai đoạn phúc thẩm, vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo và các bị hại, giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Đối với kháng cáo của bị cáo và các bị hại về việc xin cho bị cáo được hưởng án treo thì thấy: Trong vụ án này bị cáo là người khởi xướng, cầm đầu, ngoài ra còn có các bị cáo khác tham gia phạm tội, trong khi đó 04 bị cáo đồng phạm trong vụ án đều đã được Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, nay tiếp tục cho bị cáo hưởng án treo là không nghiêm. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận cho bị cáo hưởng án treo.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm bị cáo Trương Đình Phong B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trương Đình Phong B và các bị hại anh Phan L và chị Võ Thị Ánh. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HSST ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt.
Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo Trương Đình Phong B phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Về hình phạt:
- Áp dụng: khoản 1 Điều 170; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt: Bị cáo Trương Đình Phong B 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:
Bị cáo Trương Đình Phong B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Văn Bình |
Bản án số 28/2024/HS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cưỡng đoạt tài sản (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 28/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Đình Phong B phạm tội cưỡng đoạt tài sản
