TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28 /2024/DS -ST
Ngày: 17/07/2024.
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Quách Mạnh Thành.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Đào Minh Chi
Ông Nguyễn Văn Vỹ
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Quang - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hoàng Mai: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hoàng Mai xét xử công khai sơ thẩm vụ án thụ lý số 40/2023/TLST-DS ngày 18 tháng 03 năm 2024 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXX - DS ngày 14 tháng 06 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 39/QĐST-DS ngày 01 tháng 07 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
Trụ sở: X, phường 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Tổng giám đốc;
Đại diện ủy quyền: Công ty TNHH MTV Quản lý nợ và Khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty SBA);
Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc T - Tổng giám đốc;
Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H1 (Theo giấy ủy quyền số 1735/2023/GUQ-CNTD ngày 13 tháng 06 năm 2023;
* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H - sinh năm: 1962;
HKTT và nơi cư trú cuối cùng: Tổ X, phường Y, quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
(Có mặt ông Nguyễn Thanh H1 - Đại diện ủy quyền của nguyên đơn, vắng mặt ông Nguyễn Văn H – bị đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh H1 trình bày:
Ngày 27/7/2016 ông Nguyễn Văn H có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ của ngân hàng. Căn cứ vào thu nhập của ông Nguyễn Văn H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ với hạn mức là 20.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông Nguyễn Văn H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 60.953.000 đồng.
Trong qúa trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Ông Nguyễn Văn H đã thanh toán tiền cho Ngân hàng số tiền: 43.815.000 đồng, thứ tự thanh toán (điều 20 của bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Văn H vẫn không có thiện trí trả nợ. Do ông Nguyễn Văn H vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng), ngày 16/6/2017 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (điều 24 của bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 10/06/2023 ông Nguyễn Văn H còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 23.089.396 đồng; Lãi quá hạn: 63.525.262 đồng; Tổng cộng: 86.614.658 đồng (Tám mươi sáu triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng).
Mặc dù ngân hàng thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông Nguyễn Văn H yêu cầu ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Nguyễn Văn H trả nợ, tuy nhiên ông Nguyễn Văn H vẫn chưa thanh toán khoản vay quá hạn cho Ngân hàng. Ông Nguyễn Văn H vi phạm các điều khoản hợp đồng đã ký.
* Yêu cầu của nguyên đơn:
- Buộc ông Nguyễn Văn H phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 10/06/2023 là 86.614.658 đồng (Tám mươi sáu triệu, sáu trăm mười bốn nghìn, sáu trăm năm mươi tám đồng). Trong đó nợ gốc: Nợ gốc: 23.089.396 đồng; Lãi quá hạn: 63.525.262 đồng;
- Ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh kể từ ngày 11/06/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
* Tại phiên tòa ngày hôm nay, người đại diện ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh H1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu ông Nguyễn Văn H phải thanh toán tiền tính đến ngày 17/07/2024 số tiền là: 98.246.044 đồng. Trong đó nợ gốc: 23.089.396 đồng, lãi quá hạn: 75.156.648 đồng.
* Bị đơn là ông Nguyễn Văn H, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 2, khoản 4, khoản 5 điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Ông Nguyễn Văn H đã không nhận trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai. Để đảm bảo cho việc tống đạt được hợp lệ Tòa án tiến hành niêm yết công khai các văn bản tố tụng của Tòa án theo đúng quy định tại điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự. nhưng ông H không lên tòa để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do vậy, tại hồ sơ không có bản tự khai của ông H, ông H vắng mặt trong tất cả các phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Ông H đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình khi không tham gia tố tụng tại tòa án. Tòa án đã tống đạt hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa, nhưng ông Nguyễn Văn H vẫn vắng mặt, do vậy căn cứ điều 277, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà có ý kiến:
- Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng tín dụng được quy định tại điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do ngân hàng đòi cá nhân tiền vay bằng hợp đồng cấp thẻ tín dụng, nên đây là vụ án tranh chấp tín dụng thuộc vụ án dân sự.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn H hiện có nơi cư trú tại: Tổ X, phường Giáp Bát (nay là: Số X, ngõ, tổ X, phường Thịnh Liệt), quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Vì vậy Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội thụ lý và giải quyết là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự. Tòa án đã xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự theo điều 68 BLTTDS 2015.
- Việc thu thập tài liệu chứng cứ theo đúng quy định tại điều 95-97 BLTTDS 2015.
- Việc tổ chức phiên hòa giải và công khai chứng cứ đúng theo điều 208- 210 BLDS 2015.
- Việc chấp hành đúng thời hạn chuẩn bị xét xử.
- Việc thẩm phán tiến hành tố tụng giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến phiên toà đã tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại điều 41 bộ luật tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng trình tự xét xử quy định từ điều 217 đến điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại điều 70, điều 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã không chấp hành đúng các quy định tại điều 70, điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai nhận định về nội dung, hình thức hợp đồng tín dụng. Ông H vay tiền để chi tiêu cá nhân nên không xác định những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S, buộc ông Nguyễn Văn H có trách nhiệm thanh toán trả số tiền nợ gốc là 20.000.000 đồng, Ngân hàng tính lãi suất đối với toàn bộ dư nợ bao gồm: nợ gốc, nợ lãi, các khoản phí là không đảm bảo Nghị quyết 01/2019. Do đó lãi suất quá hạn chỉ được áp dụng khoản nợ gốc, như vậy thời điểm xét xử lãi suất quá hạn được tính như sau:
20.000.000 đồng x30% x2603/360 x150% = 65.075.000 đồng
Phí trễ hạn, lãi trong hạn và các khoản phí khác trong quá trình sử dụng thẻ được chấp nhận.
Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 357, 468 BLDS2015, điều 91,95,98 luật tổ chức các hoạt động tín dụng 2010, điều 12 nghị quyết 01/2019 của HĐTP chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán toàn bộ nợ gốc là 20.000.000 đồng và các khoản phí, lãi trong hạn, lãi quá hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật
Về án phí: NĐ, BĐ phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về Tố tụng:
1.1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: đây là vụ án yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S với ông Nguyễn Văn H, là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.2. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Nguyễn Văn H có nơi cư trú Tổ 25B, phường Giáp Bát (nay là: Số 62, ngõ 663 đường Trương Định, tổ 11, phường Thịnh Liệt), quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
1.3. Về chủ thể khởi kiện: Đây là vụ án tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Ông Nguyễn Văn H không thanh toán được tiền thẻ vay cho Ngân hàng TMCP S sau khi đến hạn trả
1.4. Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn H vắng mặt không có lý do trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của tòa ông H nhận văn bản tố tụng của Tòa nhưng không đến tòa làm việc. Tòa án đã tống đạt hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa, nhưng ông Nguyễn Văn H vẫn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông H là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 227, điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[2]. Về yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn: Hội đồng xét xử nhận thấy:
2.1. Xét tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng:
Ngân hàng TMCP S được thành lập theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và được Sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp mã số 0301103908, đăng ký lần đầu ngày 13/01/1992, đăng ký thay đổi lần thứ 40 ngày 09/02/2021; Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Văn H xác lập quan hệ tín dụng thông qua giấy đề nghị cấp thẻ ngày 15.07.2016.
Về chủ thể tham gia ký kết tín dụng thông qua giấy đề nghị cấp thẻ là người đại diện theo pháp luật của Ngân hàng Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Văn H.
Xét hợp đồng được xác lập trên cơ sở tự nguyện của các bên tham gia, mục đích giao kết không vi phạm điều cấm của Pháp luật, không trái đạo đức xã hội, hình thức, nội dung phù hợp quy định của Pháp luật về hợp đồng vay tài sản nên có hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia.
2.2. Về quá trình thực hiện hợp đồng:
Ngày 15/07/2016 ông Nguyễn Văn H có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ của ngân hàng. Căn cứ vào thu nhập của ông Nguyễn Văn H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ với hạn mức là 20.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Ông Nguyễn Văn H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 60.953.000 đồng.
Trong qúa trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay Ông Nguyễn Văn H đã thanh toán tiền cho Ngân hàng số tiền: 43.815.000 đồng, thứ tự thanh toán (điều 20 của bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).
Ngày 01/6/2017, ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ đối với ông H. Và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (điều 23 Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ của S).
Tính đến ngày 17/07/2024 của ông H số tiền là: 98,246.044 đồng. Trong đó nợ gốc: 23.089.396 đồng, lãi quá hạn: 75,156,648 đồng
2.3. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H phải trả tiền gốc là 23.089.396 đồng:
Ngày 15/07/2016 ông Nguyễn Văn H có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành thẻ và sử dụng thẻ của ngân hàng. Căn cứ vào thu nhập của ông Nguyễn Văn H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ với hạn mức là 20.000.000 đồng nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân. Hiện thẻ tính dụng với thông tin trên đã quá hạn tính đến ngày 17/07/2024 của ông Hưng là 23.089.396 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Căn cứ vào bản điều khoản, bản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của cá nhân ngân hàng thương mại cổ phần S Có hiệu lực từ ngày Ngày 15/07/2016 và phụ lục phát hành thẻ tín dụng không tách rời với hợp đồng thẻ tín dụng mà ông Nguyễn Văn H ký với Ngân hàng S.
Căn cứ vào các điều 22, điều 23, điều 24 của bản điều khoản, bản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của cá nhân ngân hàng thương mại cổ phần S cách tính lãi phát sinh trên thẻ.
Căn cứ vào các văn bản tính lãi, số tiền thanh toán tối thiểu phí vượt hạn mức, phí của Ngân hàng S đã nộp cho tòa án việc tính lãi nêu trên do Ngân hàng S xuất trình, thấy việc Ngân hàng S tính lãi suất của số tiền gốc nêu trên theo đúng như hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các quy định của pháp luật về tính lãi suất. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2010
Do vậy hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng đòi tiền nợ gốc đối với ông Nguyễn Văn H Với số tiền là 23.089.396 đồng.
2.4. Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tính lãi quá hạn của ông Nguyễn Văn H tiền lãi quá hạn đến hết ngày 17/07/2023 là 75,156,648 đồng.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng và bản điều khoản, bản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của cá nhân ngân hàng thương mại cổ phần S.
Tại điều 23 của bản điều khoản, bản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của cá nhân ngân hàng thương mại cổ phần S. Cách tính lãi: lãi suất cho vay mà S áp dụng đối với các khoản vay qua phát thẻ, bao gồm lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn. Lãi suất trong hạn là lãi suất được tính theo biểu phí lãi suất do S công bố qua các thời kỳ, lãi suất quá hạn là mức lãi suất tối đa bằng 150% mức lãi suất trong hạn.
Ngân hàng S đã xuất trình toàn bộ bản tính lãi qua các thời kỳ tính từ 16/6/2017 đến ngày 17/07/2024 theo đúng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hưỡng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Do vậy, ông Nguyễn Văn H phải thanh toán cho Ngân hàng với số tiền lãi tính đến ngày 17/07/2024 là 75,156,648 đồng là có cơ sở được chấp nhận.
[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S được chấp nhận, vì vậy Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp; Bị đơn là Nguyễn Văn H phải chịu án dân sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: khoản 1 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 217, điều 218 điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ: Điều 335, Điều 429, Bộ luật dân sự 2015;
Căn cứ: Điều 397; Điều 398; Điều 399; Điều 400; Điều 401 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng được sửa đổi, bổ sung năm 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hưỡng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S (S) đối với ông Nguyễn Văn H.
Buộc ông Nguyễn Văn H phải thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn (S) số tiền là: 98.246.044 đồng (Bằng chữ: chín mươi tám triệu, hai trăm bốn mươi sáu nghìn, không trăm bốn mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc: 23.089.396 đồng, lãi quá hạn: 75.156.648 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm hợp ông Nguyễn Văn H phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thi hành xong khoản nợ gốc. Trường hợp hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: ông Nguyễn Văn H phải chịu 4.912.302 đồng (Bốn triệu, chín trăm mười hai nghìn, ba trăm linh hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm (chưa nộp).
- Hoàn trả: Ngân hàng TMCP S (S) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.200.000 đồng (Hai triệu, hai trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011287 ngày 15/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn là ông Nguyễn Văn H có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ này niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quách Mạnh Thành |
Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 28/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
