|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 17/7/2024 |
---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Tú.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Đạt; ông Nguyễn Trí Vỵ
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hảo – Thư ký TAND huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Phương Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại phòng xử án hình sự, Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2024/TLST- HS, ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST–HS ngày 03/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Bùi Vĩnh C, sinh ngày: 10/9/1991 tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố A, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Bùi Quốc H và bà Ngô Thị H1. Có vợ Nguyễn Thị Á và 02 con, đứa lớn sinh năm 2018, đứa nhỏ sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
2. Đặng Đình T, sinh ngày: 12/6/1988 tại xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố I, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Giới tính: Nam. Con ông Đặng Đình H2 và bà Nguyễn Thị L. Có vợ Lê Thị L1 và 02 con, đứa lớn sinh năm 2013, đứa nhỏ sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 27/6/2012, Toà án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt Đặng Đình T 09 tháng tù về tội Đánh bạc nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, phạt bổ sung 4.000.000 đồng và buộc phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm (Đã chấp hành xong toàn bộ quyết định của bản án vào ngày 27/12/2013 và đã được xoá án tích).
Ngày 16/12/2022, Công an thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 1.500.000 đồng đối với Đặng Đình T về hành vi Sử dụng trái phép chất ma tuý (đã nộp tiền phạt ngày 04/01/2023). Ngày 02/01/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Đặng Đình T, thời hạn quản lý 01 năm, kể từ ngày 04/01/2023. Đến ngày 04/01/2024, Đặng Đình T đã có Quyết định chấm dứt quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1995, nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: TDP F, phường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
- Chị Vi Thị May L2, sinh năm 1992, nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Ngõ E, đường N, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
- Chị Võ Thị T2, sinh năm 1985, nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
- Chị Võ Thị T3, sinh năm 1982, nghề nghiệp: Nhân viên. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị Á, sinh năm 1993, nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: TDP 1B, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
- Lê Thị L1, sinh năm 1990, nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: TDP 9, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 21/01/2024, trong lúc ăn sáng Bùi Vĩnh C nói với Đặng Đình T biết việc mình có sẵn ma tuý và hai người bàn bạc với nhau sẽ sử dụng số ma túy đó vào buổi trưa cùng ngày. Sau đó, T bận đi đám giỗ nên hẹn C khi nào T về sẽ gọi cho C để cùng nhau sử dụng ma túy. Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 30 phút đến 13 giờ 55 phút cùng ngày, T và C đã nhắn tin, gọi điện với nhau nhiều lần qua ứng dụng Mesenger giữa các tài khoản facebook “Bùi Vĩnh C” của Bùi Vĩnh C và tài khoản “Dang Thanh” của Đặng Đình T để thống nhất với nhau về việc C chuẩn bị ma tuý và các dụng cụ để sử dụng ma tuý, T chuẩn bị địa điểm và tìm người cùng sử dụng ma túy với họ.
Đặng Đình T đã gọi điện thoại cho chị Võ Thị T2 - là chủ nhà nghỉ T4 CZ - với ý định đặt phòng tại tầng 4 của nhà nghỉ nhằm mục đích sử dụng ma túy nhưng chị T2 không nghe máy. Do biết tầng 4 của nhà nghỉ chỉ có 01 phòng và ít người đặt phòng này nên T không báo lại với C việc chưa gọi được cho chị T2 mà vẫn nhắn với C rằng mình đã đặt được phòng và bảo C đi đến nhà nghỉ L3. T cũng là người gọi nhân viên nữ (thường gọi là “đào”) đến sử dụng ma túy cùng. Từ các số điện thoại được C gửi đến, T gọi điện cho Nguyễn Thị T1, trú tại thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh bảo T1 gọi thêm một nhân viên nữ khác rồi đi vào quán K tại thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Mục đích T nói như vậy là để T1 và bạn đi vào thị trấn N, huyện C chứ không phải gọi họ vào phục vụ tại quán K. Sau khi nhận được điện thoại của T, T1 đã gọi thêm Vi Thị May L2, trú tại thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh đi cùng. Khi đi đến khu vực ngã ba B, T1 gọi điện cho T để hỏi địa chỉ cụ thể thì T bảo rằng không đi đến quán K như đã nói ban đầu mà đi đến nhà nghỉ T4. Lúc này, T1 hiểu ý T gọi T1 và bạn đến nhà nghỉ T4 là để sử dụng ma túy do trước đó đã có lần T1 và T cùng sử dụng ma tuý tại nhà nghỉ này. T1 đồng ý và cùng L2 đi đến nhà nghỉ T4.
Sau khi Đặng Đình T báo đã có phòng tại nhà nghỉ T4 và đã gọi được 2 nhân viên nữ đến sử dụng ma tuý cùng, Bùi Vĩnh C liền lấy túi ni lông đựng ma túy Ketamine và 02 viên ma túy dạng kẹo mà C đã mua trước đó từ một người đàn ông lái xe ôm ở Ngã ba vòng xuyến thị xã H vào ngày 20/01/2024, san một ít ma túy Ketamine dạng bột vào một chiếc đĩa sứ màu trắng rồi bọc lại bằng túi vải chống sốc, cất giấu dưới gầm tủ ở phòng ngủ tầng 2 nhà mình với ý định để sau này sử dụng. Tiếp đó, C mang theo 01 chiếc loa nhãn hiệu Kardon Harman cùng số ma túy Ketamine còn lại và 02 viên ma túy dạng kẹo bỏ trong 01 túi ni lông rôi đi từ nhà mình đến nhà nghỉ T4. Khi đến nhà nghỉ, C gặp chị Võ Thị T3 là nhân viên lễ tân. C nói với chị T3 rằng T đặt phòng ở tầng 4 của nhà nghỉ, sau đó C đi lên tầng 4. Khi này, T chưa đến nên C là người đầu tiên vào căn phòng. Lúc đó, trong phòng đã có sẵn 02 chiếc đĩa sứ màu trắng và 01 chiếc thẻ nhựa hình chữ nhật để tại ngăn bàn gỗ cạnh đầu giường ngủ. Một lúc sau, T đi đến nhà nghỉ T4. Khi gặp chị T3 tại quầy lễ tân, T bảo chị T3 đưa cho mình 01 lốc nước lọc và điều khiển điều hòa rồi đi lên phòng tại tầng 4 của nhà nghỉ. Khi T đến, C đổ hết số ma túy Ketamine dạng bột trắng ra 01 chiếc đĩa sứ trên mặt bàn và đặt túi ni lông đựng 02 viên ma túy dạng kẹo lên đĩa.
Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T1 và L2 đến nhà nghỉ T4. T1 gọi điện cho T thì được hướng dẫn đi lên phòng ở tầng 4. Khi T1 và L2 đi vào phòng nghỉ thì 4 người bắt đầu sử dụng số ma tuý do C đưa đến. Ban đầu, C bẻ đôi 01 viên ma túy dạng kẹo và sử dụng một nửa, nửa còn lại C đưa cho L2. T bẻ đôi viên ma túy còn lại và sử dụng một nửa, nửa còn lại T để ở bàn sau đó T1 lấy sử dụng. Các đối tượng cho nửa viên ma tuý vào miệng ngậm rồi nuốt cùng với nước lọc. Sau khi sử dụng hết ma túy dạng kẹo, cả 04 đối tượng bắt đầu sử dụng ma túy Ketamine. C dùng 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng cuốn tròn lại và cố định bằng các vỏ đầu lọc thuốc lá thành một ống hút để sử dụng ma túy Ketamine. Các đối tượng dùng chiếc thẻ nhựa hình chữ nhật chia ma túy đựng trên đĩa sứ thành các đường bột trắng rồi dùng ống hút được cuốn bằng tờ tiền 50.000 đồng nói trên để hít chất ma túy trực tiếp vào mũi, người nào sử dụng thì người đó tự kẻ. Riêng Nguyễn Thị T1 thì dùng móng tay ở ngón út tay phải xúc ma túy ở đĩa sứ và đưa lên mũi hít trực tiếp. Sử dụng ma túy được một lúc thì C quay về nhà, lấy và mang đến phòng nghỉ 01 bộ đèn led để phục vụ quá trình sử dụng ma túy do các đối tượng cho rằng không có đèn thì không “chơi” được. Khi đưa đèn lên, C cắm điện, bật đèn led rồi kết nối Bluetooth từ chiếc điện thoại Iphone 14 Promax của C đến chiếc loa mà C mang đến để phát nhạc, sau đó các đối tượng tiếp tục sử dụng ma túy. Trong quá trình sử dụng chất ma tuý, Vi Thị May L2 bị chóng mặt, buồn nôn nên đã nhiều lần vào nhà vệ sinh trong phòng nghỉ để nôn.
Đến khoảng 18 giờ 45 phút cùng ngày, T ra về trước, còn C, T1 và L2 vẫn tiếp tục sử dụng ma tuý và nằm nghỉ trên phòng. Khi T đi xuống đến sảnh nhà nghỉ thì thấy tổ tuần tra Công an huyện C đang kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ nên đã gọi điện thoại báo cho C. Trong lúc nghe điện thoại của T, C mang chiếc đĩa sứ đựng chất ma túy Ketamine sử dụng chưa hết ở trên bàn gỗ đầu giường cất vào trên cửa sổ chớp trong phòng vệ sinh. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, tổ tuần tra Công an huyện C vào phòng nghỉ tại tầng 4 nhà nghỉ để kiểm tra và phát hiện 03 đối tượng gồm Bùi Vĩnh C, Nguyễn Thị T1 và Vi Thị May L2 có biểu hiện nghi vấn đã sử dụng chất ma túy. Căn cứ lời khai của các đối tượng, tổ tuần tra Công an huyện C đã yêu cầu Đặng Đình T quay lại căn phòng, tiến hành lập biên bản làm việc, thu giữ, niêm phong các đồ vật, tài liệu có liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở Công an huyện C để điều tra làm rõ.
Căn cứ vào lời khai của Bùi Vĩnh C, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của C tại Tổ dân phố A, thị trấn N, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, thu giữ 01 đĩa sứ có chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy) được đựng trong 01 túi vải chống sốc cất giấu bên dưới gầm tủ tại phòng ngủ tầng 2. Cơ quan CSĐT Công an đã thu lượm chất bột màu trắng, thu giữ, niêm phong tang vật theo quy định pháp luật.
Ngày 21/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với 04 đối tượng, kết quả Bùi Vĩnh C, Đặng Đình T và Nguyễn Thị T1 dương tính với chất ma túy Ketamine, MDMA và Methamphetamine; Vi Thị May L2 dương tính với chất ma túy Ketamine
Theo Bản kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H xác định:
- Chất tinh thể màu trắng được chứa trong túi ni lông màu trắng, kích thước (3,5x3)cm, ký hiệu M1 thu giữ khi kiểm tra tại phòng tầng 4 nhà nghỉ T4 CZ gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,5090 gam.
- Chất bột màu trắng và chất tinh thể màu trắng chứa trong túi ni lông màu trắng, kích thước (4x5)cm, ký hiệu M5 thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Vĩnh C gửi đến giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,2799 gam.
Ketamine là chất ma túy nằm trong Danh mục III, STT 40 Phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ
* Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã thu giữ các đồ vật, tài sản sau:
+ Kiểm tra tại phòng nghỉ tầng 4 nhà nghỉ T4 CZ, tổ tuần tra Công an huyện C đã thu giữ các đồ vật, tài sản sau đây:
- - 01 (một) đĩa sứ màu trắng đặt trên cửa sổ chớp nhà vệ sinh, bên trên bề mặt có bám chất tinh thể màu trắng. Chất tinh thể này được thu lượm vào một túi ni lông màu trắng, kích thước (3,5x3)cm, niêm phong trong phong bì thư màu trắng, ký hiệu M1 (chất tinh thể màu trắng đó là ma tuý Ketamine, có khối lượng 0,5090 gam, đã trích 0,0584 gam để giám định, hiện còn 0,4506 gam). 01 (một) đĩa sứ màu trắng thu giữ tại ngăn bàn gỗ đặt đầu giường ngủ. 01 (một) túi ni lông kích thước (3,5x4)cm. 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.01 (một) chiếc bật lửa màu trắng. 01 (một) chiếc loa màu đen, nhãn hiệu HKardon Harman, đã qua sử dụng. 01 (một) chiếc đèn led màu đen, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động IPHONE 14 PROMAX màu tím, bên trong gắn thẻ sim số 0944894333, đã qua sử dụng (của Bùi Vĩnh C). 01 (một) điện thoại di động SAMSUNG GALAXY ZFOLD 2 5G màu nâu, bên trong gắn thẻ sim số 0936435345, đã qua sử dụng (của Bùi Vĩnh C). 01 (một) điện thoại di động IPHONE 12 PRO màu xám, bên trong gắn thẻ sim 0948556777, đã qua sử dụng (của Đặng Đình T). 01 (một) điện thoại di động IPHONE 13 PROMAX màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 0855474356, đã qua sử dụng (của Nguyễn Thị T1). 01 (một) điện thoại di động IPHONE XS MAX màu vàng, bên trong gắn các thẻ sim số 0848057907 và 0984791250, đã qua sử dụng (của Vi Thị May L2).
+ Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Vĩnh C tại tổ dân phố A, thị trấn N, huyện C, Cơ quan CSĐT thu giữ:
- - 01 (một) túi vải màu đen chống sốc có séc khóa, kích thước (30x25)cm. 01 (một) đĩa sứ màu trắng đường kính 20cm, mặt dưới có ghi chữ “OHIO”, trên bề mặt đĩa có chất tinh thể màu trắng. Chất tinh thể này được thu lượm vào một túi ni lông kích thước (4x5)cm và niêm phong bên trong 01 phong bì thư màu trắng, ký hiệu M5 (chất tinh thể màu trắng đó là ma tuý Ketamine, có khối lượng 0,2799 gam, đã trích 0,0356 gam để giám định, hiện còn 0,2443 gam). 01 (một) đĩa sứ màu trắng, viền vàng, đường kính 20cm, mặt dưới đĩa có ghi chữ “Minh C1”; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn, bọc bên ngoài bằng 03 vỏ đầu lọc điếu thuốc lá.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại điện thoại IPHONE 13 PROMAX màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 0855474356 cho Nguyễn Thị T1, trả lại điện thoại IPHONE XS MAX màu vàng, bên trong gắn các thẻ sim số 0848057907, 0984791250 cho Vi Thị May L2 và trả lại điện thoại SAMSUNG GALAXY ZFOLD 25G màu nâu, bên trong gắn thẻ sim số 0936435345 cho Bùi Vĩnh C. Các vật chứng còn lại hiện chưa xử lý.
Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKS–CL ngày 31/05/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố Trần Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”quy định tại điểm b khoản 2 điều 255 BLHS.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 32; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Vĩnh C2 từ 7 năm 6 tháng - 8 năm tù, thời hạn tù của bị cáo tính kể từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2024. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 32; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Đình T từ 5 năm - 5 năm 6 tháng tù, thời hạn tù của bị cáo tính kể từ ngày bị bắt tạm giam 24/01/2024. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX quyết định:
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì màu trắng có chữ “Công an tỉnh H, Phòng K1” được niêm phong, bên trong có 0,4506 gam ma túy Ketamine đựng trong 01 túi ni lông trong suốt; 0,2443 gam ma túy Ketamine đựng trong 01 túi ni lông trong suốt; 03 túi ni lon, 04 đĩa sứ màu trắng, 01 bật lửa màu trắng, đã qua sử dụng. 01 túi Clear được niêm phong bên trong có: 01 túi vải màu đen loại chống sốc có séc khóa
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 loa màu đen nhãn hiệu Harman Kardon, 01 đèn led màu đen, 01 điện thoại IPHONE 14 PROMAX màu tím, gắn thẻ sim 0944894333, 01 điện thoại IPHONE 12 PRO màu xám, gắn thẻ sim 0948556777. 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, đề nghị buộc các bị cáo Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T phải nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại nên các hành vi, quyết định đó đảm bảo hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về tội danh: Tại phiên Tòa, bị cáo Bùi Vĩnh C2 và Đặng Đình T hoàn toàn thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà nghỉ T4 CZ như cáo trạng đã phản ánh. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp biên bản sự việc lập ngày 21/01/2024; phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ khẳng định:
Do đã có sẵn ma túy từ trước nên ngày 21/01/2024, Bùi Vĩnh C2 và Đặng Đình T đã liên hệ, bàn bạc với nhau việc cùng sử dụng ma túy. Loại ma túy mà Bùi Vĩnh C2 chuẩn bị ma tuý Ketamine và 02 viên ma tuý dạng kẹo cùng các dụng cụ, phương tiện phục vụ việc sử dụng ma túy. Bị cáo C2 và T phân công T chuẩn bị địa điểm để sử dụng ma túy và C2 gửi số điện thoại cho T để T liên hệ, tìm kiếm người cùng sử dụng chất ma túy. Theo đó bị cáo T đã chủ động liên hệ với Võ Thị T2 chủ nhà nghỉ T4 có địa chỉ tại thôn Đ, xã T, huyện C với mục đích đặt phòng để sử dụng chất ma túy, tuy nhiên do không liên lạc được với chị T2 nên khi đến nhà nghỉ T đã trực tiếp trao đổi với nhân viên lễ tân là Võ Thị T3 để đặt phòng ở tầng 4; đồng thời, T đã liên hệ với Nguyễn Thị T1, bảo T1 rủ thêm một người nữa đi vào thị trấn N, huyện C nhằm mục đích rủ họ cùng sử dụng chất ma túy cùng với T và C2, T1 đã gọi thêm Vi Thị May L2. Sau đó, trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 phút đến 19 giờ 00 phút ngày 21/01/2024, tại phòng nghỉ ở tầng 4 của nhà nghỉ T4 CZ, Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T, Nguyễn Thị T1 và Vi Thị May L2 đã cùng nhau sử dụng trái phép số ma tuý do C2 đưa đến. Sô lượng người sử dụng chất ma túy do bị cáo C2, bị cáo T chuẩn bị là 4 người.
Bị cáo C2, bị cáo T thực hiện hành vi tổ chức cho 4 người sử dụng trái phép chất ma túy khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 12 BLHS, không thuộc tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 21 BLHS; lỗi của các bị cáo là lỗi cố ý; mục đích là để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 điều 255 Bộ luật hình sự. Vì vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội danh theo khoản, điều luật nói trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ngoài ra, Bùi Vĩnh C2 còn có hành vi tàng trữ 0,2799 gam ma túy Ketamine. Do khối lượng ma túy mà bị cáo tàng trữ dưới 01 gam, tại thời điểm ngày 21/01/2024, Bùi Vĩnh C2 chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị kết án về một trong các tội Sản xuất, Tàng trữ, Vận chuyển, Mua bán trái phép chất ma túy nên chưa đủ căn cứ để xem xét TNHS của bị cáo về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Chủ tịch UBND huyện C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 3.500.000 đồng đối với Bùi Vĩnh C2 về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ là đúng quy định.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Tình tiết tăng nặng: Không
- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đặng Đình T đã tích cực hợp tác với với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm t khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo C2 có bố đẻ là Thương binh hạng 4/4, bị cáo tích cực tham gia các hoạt động tại địa phương được Tổ dân phố, UBND thị trấn N xác nhận; bị cáo T đã có hành động cứu giúp người bị đuối nước tại khu vực Đập Nhà Đường thuộc địa phận xã T, huyện C vào ngày 03/8/2023, có xác nhận của gia đình nạn nhân và chính quyền địa phương xã T, huyện C nên các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
[4]. Về hình phạt: Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức rõ việc sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên địa bàn. Do đó, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo T có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo T là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 54 BLHS. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Hai phong bì màu trắng, một túi Clear, ba vỏ đầu lọc điếu thuốc lá, bốn đĩa sứ màu trắng; 0,6949 gam Ketamine, bốn túi ni lon, 01 (một) chiếc bật lửa màu trắng, một túi vải màu đen, các sim điện thoại số 0944.894.xxx, 0948556777 là công cụ, phương tiện dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS.
- Một tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng, một tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, một chiếc loa màu đen, nhãn hiệu HKardon Harman, đã qua sử dụng, một chiếc đèn led màu đen, đã qua sử dụng, một điện thoại di động IPHONE 14 PROMAX màu tím, một điện thoại IPHONE 12 PRO màu xám cân tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS.
- Đối với điện thoại IPHONE 13 PROMAX màu vàng, bên trong gắn thẻ sim số 0855474356, điện thoại IPHONE XS MAX màu vàng, bên trong gắn các thẻ sim số 0848057907, 0984791250, điện thoại SAMSUNG GALAXY ZFOLD 25G màu nâu, bên trong gắn thẻ sim số 0936435345 không liên quan đến thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C trả lại cho các chủ sở hữu là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 điều 106 BLTTHS.
[7]. Về án phí: Bị cáo Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thực hiện quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[9]. Liên quan trong vụ án, còn có:
- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo C2, hiện Cơ quan CSĐT vẫn đang tiến hành các biện pháp nghiệp vụ truy tìm đối tượng này để xử lý khi có đủ căn cứ.
- Nguyễn Thị T1, Vi Thị M L2 là những người cùng sử dụng trái phép chất ma túy với Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T vào ngày 21/01/2024, tuy nhiên đây đều là các đối tượng thụ hưởng, không có vai trò đồng phạm, giúp sức cho bị cáo Bùi Vĩnh C2 và Đặng Đình T. Võ Thị T2 - Chủ nhà nghỉ T4 CZ không biết việc ngày 21/01/2024 các đối tượng Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T, Nguyễn Thị T1, Vi Thị May L2 thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại tầng 4 của nhà nghỉ nên không có căn cứ xem xét TNHS đối với những người này. Chủ tịch UBND huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với những người này là đúng quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm b khoản 2 điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Bùi Vĩnh C2.
Áp dụng điểm b khoản 2 điều 255; điểm s, t khoản 1, khoản 2 điều 51; khoản 1 điều 54; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Đình T.
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 điều 106; khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136; điều 331; điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và danh mục án phí kèm theo.
Tuyên bố: Các bị cáo Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt:
- Bùi Vĩnh C2 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024
- Đặng Đình T 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2024
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: Hai phong bì màu trắng; một túi Clear; ba vỏ đầu lọc điếu thuốc lá; bốn đĩa sứ màu trắng; 0,6949 gam Ketamine; bốn túi ni lon; một chiếc bật lửa màu trắng; một túi vải màu đen; các sim điện thoại số 0944.894.xxx, 0948556777.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Một tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng; một tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; một chiếc loa màu đen, nhãn hiệu HKardon Harman; một chiếc đèn led màu đen; một điện thoại di động IPHONE 14 PROMAX màu tím; một điện thoại di động IPHONE 12 PRO màu xám.
(Đặc điểm cụ thể từng loại vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/6/2024 giữa Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Can Lộc)
Về án phí: Buộc các bị cáo Bùi Vĩnh C2, Đặng Đình T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phan Anh Tú |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do đã có sẵn ma túy từ trước nên ngày 21/01/2024, Bùi Vĩnh Cường và Đặng Đình Thành đã liên hệ, bàn bạc với nhau việc cùng sử dụng ma túy. Loại ma túy mà Bùi Vĩnh Cường chuẩn bị ma tuý Ketamine và 02 viên ma tuý dạng kẹo cùng các dụng cụ, phương tiện phục vụ việc sử dụng ma túy. Bị cáo Cường và Thành phân công Thành chuẩn bị địa điểm để sử dụng ma túy và Cường gửi số điện thoại cho Thành để Thành liên hệ, tìm kiếm người cùng sử dụng chất ma túy. Theo đó bị cáo Thành đã chủ động liên hệ với Võ Thị Tâm - chủ nhà nghỉ Thúy Hằng CZ có địa chỉ tại thôn Đoàn Kết, xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc với mục đích đặt phòng để sử dụng chất ma túy, tuy nhiên do không liên lạc được với chị Tâm nên khi đến nhà nghỉ Thành đã trực tiếp trao đổi với nhân viên lễ tân là Võ Thị Thanh để đặt phòng ở tầng 4; đồng thời, Thành đã liên hệ với Nguyễn Thị Thủy, bảo Thuỷ rủ thêm một người nữa đi vào thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc nhằm mục đích rủ họ cùng sử dụng chất ma túy cùng với Thành và Cường, Thuỷ đã gọi thêm Vi Thị May Là. Sau đó, trong khoảng thời gian từ 14 giờ 30 phút đến 19 giờ 00 phút ngày 21/01/2024, tại phòng nghỉ ở tầng 4 của nhà nghỉ Thuý Hằng CZ, Bùi Vĩnh Cường, Đặng Đình Thành, Nguyễn Thị Thuỷ và Vi Thị May Là đã cùng nhau sử dụng trái phép số ma tuý do Cường đưa đến. Sô lượng người sử dụng chất ma túy do bị cáo Cường, bị cáo Thành chuẩn bị là 4 người.
