TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày : 17/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Minh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trương Văn Lộc
- Bà Mai Thị Tuyết Dung
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Tấn Thành
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai tại phòng xét xử A, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, TP . đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/ HSST-QĐ ngày 19/6/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thành T, sinh năm: 2001 tại TP .. Nơi thường trú: tổ A ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh S, Sinh năm 1978 và bà Phạm Thị Bé B, Sinh năm: 1980; Vợ, con: Chưa có; Anh, chị, em: có 02 người em (lớn sinh năm: 2003, nhỏ sinh năm: 2007); Tiền án:không; Tiền sự : Ngày 07/11/2023 bị Công an xã B, huyện C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bị tạm giam cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Thị T1, Sinh năm 2002. Nơi thường trú: xóm I, thôn Đ, xã T, TP Q, tỉnh Qi; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn H, Sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị L, Sinh năm: 1976; Chồng: Nguyễn Thanh T2, Sinh năm: 1997; Con: có 02 người (lớn sinh năm: 2017, nhỏ sinh năm 2022); A, chị, em: có có 01 người chị, sinh năm 1995; Tiền án, Tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 20/12/2023 bị tạm giam cho đến nay và có mặt tại phiên tòa
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 11/12/2023 Nguyễn Thành T đang ở nhà tại tổ A ấp B, xã B, huyện C, do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng, nên T điều khiển xe máy biển số 72L5 - 1987 đi đến quán C1 thuộc tổ A ấp B, xã B, huyện C để rủ Nguyễn Thị T1 đi lên Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy về sử dụng thì T1 đồng ý. Sau đó T điện thoại cho người thanh niên tên T3 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) để hỏi mua ma túy, rồi T điều khiển xe máy biển số 72L5 - 1987 chở T1 đi đến khu vực gần ngã 3 đường G và H thuộc phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên tên T3 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) mua ma túy với số tiền 200.000 đồng, được 01 gói nylon bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine. Sau đó T cất giấu gói ma túy vào trong người và chở T1 quay về huyện C, khi về đến nhà nghỉ Q thuộc tổ A, ấp B, xã B, huyện C, T vào thuê phòng số 101 và kêu T1 ở lại phòng, rồi T điều khiển xe máy về nhà lấy dụng cụ sử dụng ma túy và nhờ Nguyễn Thành N (sinh năm: 2007, hộ khẩu thường trú: tổ A ấp B, xã B, huyện C) là em ruột của T, chở T đến nhà nghỉ Q. Đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, T đi vào phòng số 101 lấy gói ma túy, loại Methamphetamine mà T và T1 vừa mua cho một ít vào dụng cụ để T và T1 sử dụng, số ma túy còn lại T để trên chiếc nệm trong phòng, sau khi T vừa sử dụng ma túy xong thì đưa qua cho T1 sử dụng, khi T1 đang sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện C vào kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Thành T có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và cùng Nguyễn Thị Tuyết tàng t trái phép chất ma túy với số lượng gồm: 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, loại Methamphetamine và 01 ống thủy tinh có đầu tròn chứa tinh thể màu nâu là ma túy, loại Methamphetamine được để trên chiếc nệm trong phòng, nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng có liên quan.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành T và Nguyễn Thị T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không phát hiện vật chứng gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Ngày 11/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu và 01 ống thủy tinh có đầu tròn chứa tinh thể màu nâu đã thu giữ. Bản Kết luận giám định số: 13741/KL-KTHS ngày 19/12/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H, kết luận: “Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1092 gam (không phẩy một không chín hai gam), loại Methamphetamine và tinh thể màu nâu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0641 gam (không phẩy không sáu bốn một gam), loại Methamphetamine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Nguyễn Thành T và Nguyễn Thị T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
2
Trong giai đoạn điều tra, truy tố các bị can Nguyễn Thành T và Nguyễn Thị T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
- Về vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy, ở thể rắn có khối lượng 0,1092 gam, loại Methamphetamine, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,0715 gam;
- + 01 (một) ống thủy tinh có đầu tròn chứa tinh thể màu nâu là ma túy, ở thể rắn có khối lượng 0,0641 gam, loại Methamphetamine, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,0461gam;
- + 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ, đã qua sử dụng;
- + 03 (ba) quẹt gas, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) cái kéo màu trắng, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) bình nhựa tự chế trên nắp có khoét 02 lỗ, có gắn 01 ống nhựa, đã qua sử dụng.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ theo Quyết định chuyển vật chứng số 05 ngày 22 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ.
- + 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị T1 không sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho Nguyễn Thị Tuyết .
- + 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, biển số: 72L5 - 1987, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của anh Nguyễn Thanh S (sinh năm: 1978, hộ khẩu thường trú: tổ A ấp B, xã B, huyện C) là cha ruột của T, mua lại của chị Đặng Bảo K (sinh năm: 1966, hộ khẩu thường trú: đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), nhưng không làm thủ tục sang tên. Ngày 11/12/2023, T sử dụng phương tiện trên để đi mua ma túy thì anh S không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho anh Nguyễn Thanh S.
Cáo trạng số 06/CT-VKS HCG ngày 22/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố bị cáo Nguyễn Thành T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 255 và điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và bị cáo Nguyễn Thị T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
3
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Trọng phạm t1 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T mức hình phạt từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Tuyết m hình phạt 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành T, Nguyễn Thị T1, hình dấu công an xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, ở thể rắn, loại Methamphetamine, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,0715 gam; 01 (một) gói nylon chứa 01 (một) ống thủy tinh có đầu tròn chứa tinh thể màu nâu là ma túy, ở thể rắn, loại Methamphetamine, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,0461gam; 03 (ba) quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 (một) cái kéo màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) bình nhựa tự chế trên nắp có khoét 02 lỗ, có gắn 01 ống nhựa, đã qua sử dụng; Tịch thu sung công quỹ đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ, đã qua sử dụng.
Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, Bị cáo T: Trong thời gian tạm giam, bị cáo đã suy nghĩ rất nhiều, bị cáo xin giảm nhẹ để sớm về làm lại cuộc đời.
Bị cáo T1: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
4
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được cũng như diễn biến tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 11/12/2023 tại phòng số 101, nhà nghỉ Q thuộc tổ A, ấp B, xã B, huyện C, Nguyễn Thành T đã bị Công an huyện C bắt quả tang về hành vi tổ chức cho Nguyễn Thị T1 sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Thành T cùng với Nguyễn Thị T1 đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy ở thể rắn. Khối lượng ma túy thu giữ được còn lại là 0,1733 gam, loại Methamphetamine, với mục đích sử dụng. Do đó Hành vi của Nguyễn Thành T đã phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 và điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Còn hành vi của Nguyễn Thị T1 đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng qui định của pháp luật.
Điều 249: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”
Khoản 1 Điều 255 quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
......"
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Xét khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã đủ 18 tuổi, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được hành vi của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật. Vì sự nuông chiều ham muốn của bản thân, xem thường pháp luật nên các bị cáo cố ý thực hiện hành vi pham tội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, thể hiện lối sống không lành mạnh, sa đà vào tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, kinh tế và sự phát triển của chính bản thân và gia đình các bị cáo.
Xét về nhân thân: Bị cáo T có một tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không có tiền án. Bị cáo thuộc đối tượng nghiện lâu năm, không tự mình cắt cơn, từ bỏ ma túy được.
5
Bị cáo T1 không có tiền án, tiền sự nhưng lại bỏ địa phương, gia đình, con cái, đi khỏi nơi cư trú, không đăng ký lưu trú, tạm trú tại nơi ở mới, sa đà vào tệ nạn xã hội. Bị cáo T1 đã từng sử dụng ma túy từ năm 2021.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 giảm cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; xét nhân thân của bị cáo và khả năng tự cải tạo giáo dục của bị cáo; Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo tương xứng với hành vi và mức độ phạm tội để nhằm mục đích răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội.
[4] Xét về vai trò đồng phạm:
Bị cáo T là người khởi xướng việc đi mua ma túy về sử dụng. T cũng là người bỏ tiền, tự liên hệ, giao dịch mua ma túy và tổ chức cho T1 sử dụng. Giữa các bị cáo không có sự phân công tổ chức, bàn bạc trước nên việc đồng phạm mang tính chất giản đơn nhưng có sự phân hóa vai trò. Do đó, mức án của bị cáo T cao hơn mức án của bị cáo T1 về cùng tội danh.
[5] Về xử lý vật chứng:
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Samsung, màu đen, đã qua sử dụng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị T1 không sử dụng vào việc phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho Nguyễn Thị T . là đúng quy định
- + 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, màu đỏ - đen, biển số: 72L5 - 1987, đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là của anh Nguyễn Thanh S (sinh năm: 1978, hộ khẩu thường trú: tổ A ấp B, xã B, huyện C) là cha ruột của T, mua lại của chị Đặng Bảo K (sinh năm: 1966, hộ khẩu thường trú: đường B, Phường A, thành phố V, tỉnh Vu), nhưng không làm thủ tục sang tên. Ngày 11/12/2023, T sử dụng phương tiện trên để đi mua ma túy thì anh S không biết, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại tài sản cho anh Nguyễn Thanh S. là đúng quy định.
[5] Về các tình tiết khác của vụ án:
Đối với người thanh niên tên T3 đã nhiều lần bán ma túy cho Nguyễn Thành T do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Nguyễn Thành N khi chở Nguyễn Thành T đến nhà nghỉ Q thì N không biết T đang cất giấu ma túy và dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý.
6
Đối với nhà nghỉ Q, quản lý và chủ sở hữu không biết việc khách thuê phòng là T và T1 có hành vi phạm tội nên chưa đủ căn cứ xử lý.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thành T thuộc diện hộ nghèo có mã số 27667073792HN nên thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Bị cáo T1 phải nộp án phí theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tộit1 “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 02 (hai) năm tù đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T là 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2023. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2023. Tiếp tục giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thành T, Nguyễn Thị T1, hình dấu công an xã B, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, ở thể rắn, loại Methamphetamine, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,0715 gam; 01 (một) gói nylon chứa 01 (một) ống thủy tinh có đầu tròn chứa tinh thể màu nâu là ma túy, ở thể rắn, loại Methamphetamine, sau khi phục vụ giám định khối lượng còn lại là 0,0461gam; 03 (ba) quẹt gas, đã qua sử dụng; 01 (một) cái kéo màu trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) bình nhựa tự chế trên nắp có khoét 02 lỗ, có gắn 01 ống nhựa, đã qua sử dụng;
Tịch thu sung công quỹ đối với 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Iphone 8, màu đỏ, đã qua sử dụng.
- Về án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo T thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.
7
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo T1 phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Minh |
8
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ, tổ chức sử dụng ma túy
