Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 17/6/2024

Về việc “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hà

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Thân Thị Quyên

2. Ông Dương Viết Vĩnh

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 59/2024/ TLST- HN&GĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc "Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXX - ST ngày 31/5/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1988

HKTT: xóm T, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

Chỗ ở hiện nay: Số nhà C, Phố Xuân M, P, TP V, tỉnh Vĩnh Phúc

Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1986

HKTT: xóm T, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

(Có mặt các bên đương sự)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Thanh T1 kết hôn năm 2008 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Sau khi kết hôn, cuộc sống có hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có cùng quan điểm sống, thường xuyên nảy sinh cãi vã về nhiều vấn đề trong cuộc sống như cách nuôi dạy con cái, kinh tế, chị không nhận được sự tôn trọng của chồng nên cuộc sống vợ chồng ngột ngạt, không có hạnh phúc. Do mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng chị đã ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Tại phiên tòa, chị T vẫn xác định không còn tình cảm đối với anh T1, không có nguyện vọng về đoàn tụ vợ chồng nên xin được ly hôn với anh T1 để giải phóng cho nhau.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn T2, sinh ngày 22/11/2008; Nguyễn Khánh N, sinh ngày 08/7/2011 và Nguyễn Đức D, sinh ngày 13/10/2019. Trong bản tự khai à biên bản hòa giải, chị T yêu cầu được nuôi cả ba con chung do cháu D còn bé, cần thiết phải có sự chăm sóc của mẹ. Cháu T2, cháu N có nguyện vọng được ở cùng với mẹ. Nếu được Tòa án chấp nhận, chị đề nghị anh T1 cấp dưỡng nuôi mỗi con 1.000.000đ/ tháng. Tổng 03 con là 3.000.000đ/tháng. Tại phiên tòa, chị T và anh T1 thỏa thuận, chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thắng, và Nguyễn Khánh N đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh T3 trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đức D đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T xin tự thỏa thuận với anh T3, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh T1 trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn nhất trí như chị T trình bày là đúng

Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng đến nay được 16 năm, tuy cũng có những mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ, không sâu sắc, anh không hiểu vì lý do gì chị T tự nhiên bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ tháng 8/2023 cho đến nay. Anh cũng đã nhiều lần xuống nhà ngoại khuyên bảo chị T về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung nhưng chị T không đồng ý về và đến nay có đơn xin ly hôn anh. Nguyện vọng của anh mong vợ chồng về đoàn tụ, anh không đồng ý ly hôn. Trường hợp chị T cương quyết xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng có 03 chung như chị T trình bày là đúng. Trong bản tự khai à biên bản hòa giải anh T1 có ý kiến trường hợp phải ly hôn, anh đồng ý giao cả 03 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 1.000.000đ/tháng. Tổng 03 con 3.000.000đ. Trường hợp nếu có một con chung ở cùng với anh hoặc hai con ở cùng với anh thì không đồng ý cấp dưỡng cho chị T.

Tại phiên tòa, anh T1 và chị T thỏa thuận, chị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thắng, và Nguyễn Khánh N đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh T3 trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đức D đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh T3 xin tự thỏa thuận với chị T, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Anh T3 xác định vợ chồng không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Sau khi nghe đại diện VKS phát biểu quan điểm chấp hành pháp luật tố tụng dân sự, quan điểm giải quyết vụ án. HĐXX nhận định:

{1} Về thủ tục tố tụng

[1.1] Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị T khởi kiện xin ly hôn và đề nghị giải quyết quyền nuôi con chung với bị đơn anh Nguyễn Thanh T1 có đăng ký nhân khẩu thường trú xóm T, xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự xác định đây là Tranh chấp về hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Bình.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Thanh T1 tự nguyện kết hôn năm 2008, có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện P, tỉnh Thái Nguyên ngày 14/7/2008 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị T trình bày, quá trình chung sống, anh chị có hòa thuận hạnh phúc được một thời gian, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không có cùng quan điểm sống, thường xuyên nảy sinh cãi vã về nhiều vấn đề như cách nuôi dạy con cái, kinh tế. Bản thân chị không nhận được sự tôn trọng của chồng nên cuộc sống dần trở nên không có hạnh phúc và anh chị cũng đã ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay. Phía anh T1 cho rằng vợ chồng cũng có mâu thuẫn nhưng chỉ là mâu thuẫn nhỏ nhặt, không đến mức phải ly hôn. Anh cũng không biết vì lý do gì chị T bỏ về nhà ngoại ở từ tháng 8/2023 cho đến nay không về mặc dù anh cũng đã nhiều lần khuyên chị T về đoàn tụ để con cái có bố có mẹ. Tòa án đã tiến hành hòa giải, tuy nhiên anh chị đều không thay đổi quan điểm. Tại phiên tòa, chị T vẫn cương quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn.

HĐXX thấy rằng, bản thân anh T1 có nguyện vọng muốn đoàn tụ vợ chồng, tuy nhiên khi Tòa án tiến hành hòa giải lần thứ 2 cho anh chị, tuy nhiên anh vắng mặt không có lý do. Điều đó cho thấy anh không có nguyện vọng cần Tòa án hòa giải cho anh chị về đoàn tụ, cũng như cho thấy anh không có biện pháp tích cực trong việc hàn gắn quan hệ vợ chồng.

Theo quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình quy định: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chung thủy, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng phải có nghĩa vụ chung sống với nhau”. Đối với quan hệ vợ chồng giữa chị T, anh T1 đã không còn sự thương yêu, quan tâm, chăm sóc nhau, cùng chia sẻ công việc trong gia đình, trên thực tế, anh chị cũng đã ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay là vi phạm nghĩa vụ chung sống với nhau. Điều đó cho thấy anh chị đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn hân không đạt được. Việc duy trì quan hệ hôn nhân không đem lại hạnh phúc cho cả hai bên, do vậy cần chấp nhận cho chị T được ly hôn với anh T1 là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

[2.2]. Về con chung: Quá trình chung sống, anh chị có 03 con chung: Nguyễn T2, sinh ngày 22/11/2008; Nguyễn Khánh N, sinh ngày 08/7/2011 và Nguyễn Đức D, sinh ngày 13/10/2019. Khi ly hôn, chị T và anh T1 thỏa thuận: chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Thắng, và Nguyễn Khánh N đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Tuấn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung Nguyễn Đức D đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Hội đồng xét xử xét thấy: Sự thỏa thuận của anh T1 và chị T về việc nuôi con chung là ý trí tự nguyện của các bên, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu T2, cháu N muốn ở cùng với mẹ. Do vậy cần công nhận sự thỏa thuận của chị T và anh T1 về việc nuôi con chung, như vậy là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với thực tế.

Về yêu cầu cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về Tài sản chung, công nợ chung: không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Án phí: Chị T chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.

[2.5]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng: - Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;

- Điều 51, 56, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu giải quyết về con chung của chị Nguyễn Thị T với anh Nguyễn Thanh T1.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thanh T1

2. Về con chung: Giao 02 con chung: Nguyễn T2, sinh ngày 22/11/2008; Nguyễn Khánh N, sinh ngày 08/7/2011 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động (hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật).

Giao con chung Nguyễn Đức D, sinh ngày 13/10/2019 cho anh Nguyễn Thanh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi, có khả năng lao động (hoặc khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật).

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở họ thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi việc nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật

3. Tài sản chung, công nợ chung: chị T, anh T1 xác định không có tài sản chung, công nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình, biên lai thu số 0003762 ngày 22/3/2024. Xác nhận chị T đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bên đương sự, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - THADS huyện Phú Bình;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - UBND xã Tân Kim;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Thị Thu Hà

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ - ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger