Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẠNG GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17-6-2024

V/v: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Văn Cương
  2. Ông Bùi Thế Vịnh

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 54/2024/QĐSTHNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Hà Văn N, sinh năm 1964 - (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1964 - (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang

(Ông N có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn ông Hà Văn N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Năm 1995, ông và bà T được tự do tìm hiểu và tự nguyện về chung sống cùng nhau, tuy nhiên vợ chồng ông không thực hiện thủ

tục đăng ký kết hôn tại UBND xã M. Trước khi về chung sống cùng nhau, ông và bà T chưa từng đăng ký kết hôn và chưa từng chung sống với người nào khác. Ông và bà T về chung sống cùng nhau tại thôn C, xã M, thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên, từ năm 2000 sau khi sinh con thứ ba thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng cũng sống ly thân từ năm 2000 đến nay, không sống cùng nhà với bà T nữa. Mặc dù ông và bà T sống khác nhà nhưng mỗi khi ông có bạn bè đến chơi nhà thì bà T lại chửi bới thậm tệ trong nhiều năm nay. Nay ông xác định không còn tình cảm với bà T, vợ chồng không thể đoàn tụ, ông đề nghị Toà án giải quyết không công nhận ông và bà T là vợ chồng.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống cùng nhau, giữa ông và bà Hoàng Thị T có 03 người con chung là: Hà Thị H, sinh ngày 04/3/1996; Hà Văn H1, sinh ngày 21/9/1998 và Hà Văn S, sinh ngày 17/8/2000. Hiện nay các con chung đã trưởng thành, khi ly hôn ông không yêu cầu Toà án giải quyết về con chung.

- Về tài chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Bị đơn bà Hoàng Thị T trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã được Tòa án thông báo thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, thông báo thụ lý, triệu tập đến làm việc, thông báo tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập phiên tòa, quyết định hoãn phiên tòa song bà T không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gì về việc giải quyết vụ án. Bà T tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa.

Do ông N và bà T đều từ chối hòa giải nên không tiến hành hòa giải được vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án xác minh với chính quyền địa phương xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang thì thấy: Ông Hà Văn N và bà Hoàng Thị T là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương. Ông N và bà T là vợ chồng chung sống cùng nhau từ năm 1995, tuy nhiên ông N, bà T không thực hiện đăng ký kết hôn tại UBND xã M. Khi về chung sống cùng nhau tại thôn C thì vợ chồng ông bà sinh được 03 người con là Hà Thị H, sinh ngày 04/3/1996; Hà Văn H1, sinh ngày 21/9/1998 và Hà Văn S, sinh ngày 17/8/2000. Tuy nhiên trong cuộc sống ông N, bà T nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể như thế nào thì địa phương không nắm được, chỉ thấy vợ chồng ông bà sống ly thân, không ở cùng nhà với nhau từ năm 2000. Nay ông N làm đơn đề nghị

không công nhận là vợ chồng với bà T, địa phương đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn ông Hà Văn N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bà Hoàng Thị T vắng mặt lần 2 không có lý do. Hội đồng xét xử công bố các lời khai, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên toà đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX) và Thư ký phiên tòa là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo thực hiện nghiêm túc, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ. Đối với bị đơn đã vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, HĐXX căn cứ Điều 227, 238 của Bộ luật tố tụng xét xử vụ án là đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng các Điều 14, 53, 131 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 238, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 236/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân xử không công nhận ông N và bà T là vợ chồng; Về con chung: Ông N và bà T có 03 con chung là Hà Thị H, sinh ngày 04/3/1996; Hà Văn H1, sinh ngày 21/9/1998 và Hà Văn S, sinh ngày 17/8/2000. Hiện các con chung đã trưởng thành, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét. Về sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Do ông N là người cao tuổi thuộc trường hợp miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra kiểm sát viên đề nghị HĐXX xem xét về quyền kháng cáo của đương sự.

- Kiến nghị, khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi Nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1]. Đơn khởi kiện của ông Hà Văn N cùng các tài liệu nộp theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức, nội dung đơn khởi kiện. Đây là tranh chấp hôn nhân gia đình cụ thể là không công nhận quan hệ vợ chồng theo khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn bà Hà Thị T1 hiện đang cư trú tại Thôn C, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Nguyên đơn có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, HĐXX Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Ông N và bà T1 chung sống cùng nhau từ năm 1995 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó căn cứ điểm b mục 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 thì ông N và bà T1 chung sống cùng nhau từ năm 1995, mặc dù cho đến nay ông N và bà T1 cũng không đăng ký kết hôn theo quy định, cho nên ông N, bà T1 không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Ông N trình bày vợ chồng sau khi sinh con thứ 3 thì vợ chồng mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và vợ chồng sống ly thân từ năm 2000 đến nay là phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương. Mặc dù, không có lời khai của bà T1, tuy nhiên HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng ông N trầm trọng kéo dài, vợ chồng sống ly thân đã lâu, ông không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, việc duy trì quan hệ hôn nhân không đạt được mục đích mang đến hạnh phúc cho cả hai. Do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu của ông N, không công nhận ông N và bà T1 là vợ chồng theo quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 là phù hợp.

[4]. Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng ông N và bà T1 có ba con chung là Hà Thị H, sinh ngày 04/3/1996; Hà Văn H1, sinh ngày 21/9/1998 và Hà Văn S, sinh ngày 17/8/2000, do các con đã trưởng thành nên ông N không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết. Do vậy HĐXX không đề cập xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[6]. Về án phí: Tại thời điểm xét xử ông N là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, cần hoàn trả ông Hà Văn N số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 131 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 235, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10; Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử không công nhận ông Hà Văn N và bà Hoàng Thị T là vợ chồng.
  2. Về con chung: Ông Hà Văn N và bà Hoàng Thị T có 03 con chung là Hà Thị H, sinh ngày 04/3/1996; Hà Văn H1, sinh ngày 21/9/1998 và Hà Văn S, sinh ngày 17/8/2000. Cả 03 con đều đã trưởng thành, nên không xem xét, giải quyết.
  3. Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Hà Văn N. Hoàn trả ông N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0007351 ngày 26/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
  4. Về quyền kháng cáo: Ông N, bà T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Lạng Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Mỹ Thái;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Thị Thiêm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nhận đề nghị không công nhận quan hệ vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger