Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẦU KÈ

TỈNH TRÀ VINH

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 17-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Thành Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Xem.
  2. Bà Trần Thị Thúy Phượng.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đức Trọn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè tham gia phiên tòa: Bà Thái Thị Thể - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 05/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 16/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/HSST-QĐ ngày 30/5/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng S, sinh ngày 10/10/1985 tại tỉnh Trà Vinh; Giới tính: Nam;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Không nghề;

Trình độ học vấn: 09/12; Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh T; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1939 (đã chết), và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1945 (đã chết);

Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/9/2017 bị Tòa án nhân dân Quận Cái Răng xử phạt 04 năm tù theo bản án số 71/HSST ngày 30/9/2017 về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy. Bị cáo Nguyễn Hoàng S bị bắt tạm giam từ ngày 11/10/2023 cho đến nay. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Hữu R, sinh năm 1976. (có mặt)

Nơi cư trú: Ấp 2, xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh

Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Hùng A, sinh năm 1985. (vắng mặt)

    Nơi cú trú: Số nhà 258/13, đường 14/9, khóm 5, phường 5, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

  2. Chị Nguyễn Thị Anh L, sinh năm 2004. (vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp 4, xã T, huyện C, tỉnh T

  3. Anh Đoàn Văn B, sinh năm 1995. (vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp Hiếu Minh B, xã Hiếu Nhơn, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

  4. Anh Nguyễn Nhựt Q, sinh năm 1996. (vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp K, xã H, huyện T, tỉnh V.

  5. Anh Nguyễn Lê N, sinh năm 2000. (vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh T.

  6. Anh Nguyễn Chí V, sinh năm 1991. (vắng mặt)

    Nơi cư trú: Ấp Kinh B, xã Hiếu Thành, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 11 tháng 10 năm 2023, bị cáo Nguyễn Hoàng S sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu xanh - đen, loại phím bấm liên lạc với Nguyễn Hùng A để mua ma tuý về sử dụng thì A đồng ý và hẹn bị cáo đến khu vực cầu bê tông thuộc xã Hiếu Nghĩa, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long để giao dịch việc mua bán. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại TAURUS, biển số kiểm soát 59F1-154.44 từ nhà đến khu vực đã hẹn để mua ma tuý với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau khi mua được ma tuý, bị cáo S cất giấu vào bên trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe về nhà của mình.

Khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo đang ở nhà thì có một người nam thanh niên (bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) đến gặp, yêu cầu bị cáo bán trái phép chất ma tuý với số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) thì bị cáo đồng ý và lấy một ít chất ma tuý vừa mua bán cho người nam thành niên rồi tiếp tục cất, giấu số ma tuý còn lại. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo lấy ống thuỷ tinh mang đi ra khu vực nhà sau để tạo thành phểu (coóng) dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị Công an huyện Cầu Kè phát hiện, tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tạm giữ 01 (một) túi nhựa màu trắng được hàn kín, kích thước (2,5cm x 01cm) bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể dạng rắn màu trắng nghi là chất ma tuý (niêm phong ký hiệu PS3 mã số PS3A 083312); 01 (một) túi nhựa màu trắng được kéo khoá kín (loại túi Zip), kích thước (7,5cm x 4,5cm) bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể dạng rắn nghi là chất ma tuý (niêm phong ký hiệu PS3 mà số PS3A 083303) và nhiều đồ vật, dụng cụ khác do bị cáo tự nguyện giao nộp.

Ngày 12/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè ra Quyết định trưng cầu giám định đối với phong bì được niêm phong ký hiệu PS3 mã số PS3A 083312 và PS3 mã số PS3A 083303 để xác định khối lượng và loại chất ma túy.

Tại Bản kết luận giám định số 749/KL-KTHS ngày 14 tháng 10 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Trà Vinh kết luận:

“- Gói 01: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi nhựa được niêm phong ký hiệu PS3 mã số PS3A 083312 gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng: 0,1397 gam.

- Gói 02: Tinh thể màu trắng chứa trong 01 (một) túi nhựa được niêm phong ký hiệu PS3 mã số PS3A 083303 gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng: 1,3940 gam.”

Như vậy, tổng khối lượng ma túy bị cáo Nguyễn Hoàng S tàng trữ trái phép vào ngày 11 tháng 10 năm 2023 là: 1,5337 gam. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị cáo và ra Lệnh tạm giam đối với bị cáo Nguyễn Hoàng S cho đến nay.

Quá trình điều tra, bị cáo khai nhận vào ngày 02 tháng 10 năm 2023 bị cáo điều khiển xe mô tô biển số 59F1-154.44 đi đến khu vực cầu bê tông thuộc xã Hiếu Nghĩa, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long gặp Nguyễn Hùng A để mua ma tuý với số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) nhằm mục đích sử dụng. Sau đó, bị cáo mang ma tuý đã mua về nhà tại ấp 2, xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh để cất giấu sử dụng dần. Ngày 09 tháng 10 năm 2023, Nguyễn Nhựt Q đến nhà gặp bị cáo, yêu cầu bị cáo bán ma tuý với số tiền 150.000₫ (một trăm năm mươi nghìn đồng) thì bị cáo đồng ý. Bị cáo lấy ma tuý đã mua vào ngày 02 tháng 10 năm 2023 ra bán cho Q, sau khi nhận được ma tuý Q đề nghị cho Q thiếu tiền thì bị cáo S đồng ý.

Quá trình làm việc, Nguyễn Nhựt Q thừa nhận vào ngày 09 tháng 10 năm 2023 có đến nhà của bị cáo S mua ma tuý để sử dụng cá nhân vào ngày 09 và 10 tháng 10 năm 2023 và đã sử dụng hết số ma tuý đã mua của bị cáo S. Ngày 05/3/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cầu Kè đã ra Quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với bị cáo S.

Tại Cáo trạng số 20/CT-VKS-HS ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hoàng S đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng thể hiện là đúng, bị cáo không bổ sung hay khiếu nại về nội dung Cáo trạng.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Nguyễn Nhựt Q, ngày 29 tháng 01 năm 2024 Công an huyện Cầu Kè đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối tượng với số tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng).

Đối với người thanh niên đã mua ma tuý của bị cáo vào ngày 11 tháng 10 năm 2023. Qua làm việc, bị cáo S không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người thanh niên trên. Đồng thời, cũng không có chứng cứ nào khác để xác định được người thanh niên đã mua ma tuý của bị cáo S nên Cơ quan điều tra không thể triệu tập, mời làm việc.

Đối với Nguyễn Hùng A, qua làm việc đối tượng không thừa nhận đã bán trái phép chất ma tuý cho bị cáo bị cáo S, việc trao đổi qua điện thoại giữa đối tượng với bị cáo xoay quanh việc đối tượng nhờ bị cáo nuôi gà đá. Tiến hành đối chất, A vẫn giữ nguyên lời khai của mình.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại TAURUS, biển số 59F1-154.44 là của ông Nguyễn Hửu R – sinh năm 1976, cư trú ấp 2, xã Thạnh Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh mua của một người tại thành phố Hồ Chí Minh nhưng không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Trong quá trình mua bán, người bán có giao giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho ông R nhưng ông R đã làm thất lại trong quá trình sử dụng. Đến năm 2021, ông R đã tặng xe mô tô nói trên cho bị cáo S sở hữu, quản lý và sử dụng. Qua xác minh xác định xe mô tô trên là của ông Trần Hồng P – sinh năm 1989, cư trú số 85 cư xá đường sắt, Lý Thái Tổ, Phường 1, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện tại ông P đã bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra không tiến hành làm việc được.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích các chứng cứ buộc tội bị cáo, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vị đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S từ 2 năm đến 2 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S từ 2 năm đến 2 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo S.

Ngoài ra, Vị Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận những hành vi phạm tội của bị cáo như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh truy tố cũng như lời luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo như sau: Bị cáo cảm thấy ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung Cáo trạng đã mô tả, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định, biên bản thu giữ vật chứng và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 19 giờ, ngày 11 tháng 10 năm 2023 tại nhà của bị cáo Nguyễn Hoàng S thuộc ấp 2, xã Thạnh Phú huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh, Công an huyện Cầu Kè phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tạm giữ 02 (hai) túi nhựa màu trắng có kích thước khác nhau, bên trong túi nhựa có chứa tinh thể dạng rắn màu trắng nghi là ma tuý và các đồ vật có liên quan do bị cáo S tự nguyện giao nộp. Quá trình điều tra bị cáo khai nhận, khoảng 13 giờ ngày 11/10/2023, bị cáo S một mình điều khiển xe mô tô biển số 59F1-154.44 từ nhà đến khu vực cầu bê tông thuộc xã Hiếu Nghĩa, huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long để mua ma tuý của Nguyễn Hùng A với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng). Sau đó, bị cáo đem ma tuý đã mua về nhà cất giấu nhằm mục đích sử dụng, khi bị cáo chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma tuý thì bị Công an huyện Cầu Kè phát hiện.

Kết luận giám định 02 (hai) túi nhựa màu trắng, bên trong có chứa tinh thể dạng rắn màu trắng là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 1,5337 gam. Ngoài ra, quá trình điều tra bị cáo còn khai nhận vào ngày 02 tháng 10 năm 2023 bị cáo có mua ma tuý của Nguyễn Hùng A với số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) để sử dụng, trong quá trình sử dụng bị cáo có bán lại cho Nguyễn Nhựt Q 01 (một) phần ma tuý với số tiền 150.000 đồng.

Do đó, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền quản lý, sử dụng độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo không chỉ làm hao mòn, tổn hại cho sức khỏe của chính bản thân mình mà còn là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội địa phương nơi bị cáo gây án, làm cho quần chúng nhân dân không an tâm lao động sản xuất, làm ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn minh, đấu tranh phòng chống tội phạm cũng như bày trừ các tệ nạn xã hội. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người nhưng bị cáo vẫn cố tình tìm mua ma túy, bán lại cho người khác. Bị cáo có nhân thân xấu đã bị Tòa án nhân dân Quận Cái Răng xử phạt 04 năm tù về tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, nhưng bị cáo lại tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ xem thường pháp luật; Để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian để có điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành một công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đồng thời cũng nhằm mục đích răn đe, phòng chống tội phạm về ma túy cho toàn xã hội.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xử phạt bổ sung tiền đối với bị cáo Nguyễn Hoàng S.

[4] Song, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét, bị cáo Nguyễn Hoàng S trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện thái độ ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi bị bắt phạm tội quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị cáo tự nguyện khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy đây là tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đây là tình tiết giảm nhẹ được áp dụng đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Hoàng S có cha ruột là ông Nguyễn Văn X là thương binh nên cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Hoàng S không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

  • 02 (hai) phong bì được niêm phong số 749/M1 và 749/M2, bên trong phong bì có chứa tính thể màu trắng có khối lượng 0,1188 gam và 1,3834 gam ghi ngày 14/10/2023 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Văn Thiện.
  • 01 (một) bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý bằng thuỷ tinh trong suốt được uốn cong, đầu dạng phểu và 01 (một) ống nhựa màu trắng (Tạm giữ, niêm phong ký hiệu S4).
  • 220 (hai trăm hai mươi) gam túi nhựa (loại túi zip), có nhiều kích thước khác nhau (Tạm giữ, niêm phong ký hiệu S2)
  • Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại TAURUS màu đen – trắng, biển số 59F1-154.44, đã qua sử dụng đây là phương tiện bị cáo S sử dụng để đi mua ma túy do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; 01 (một) cân điện tử màu bạc, đã qua sử dụng (Tạm giữ, niêm phong ký hiệu S3), mục đích bị cáo mua đồ vật trên là sẽ mua bán trái phép chất ma tuý trong thời gian tới do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh - đen, số IMEI 1: 355043871419850, số IMEI 2: 355043873419858, đã qua sử dụng (Tạm giữ, niêm phong ký hiệu S1) mà bị cáo dùng để liên lạc với Nguyễn Hùng A trong việc mua trái phép chất ma tuý do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với số tiền bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Nhựt Q là 150.000₫ (một trăm năm mươi nghìn đồng), do Q chưa trả cho bị cáo nên không truy thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền này đối với bị cáo.

[6] Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thẩm tra các quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, đều đúng quy định của pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[7] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12, Điều 23, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng S phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Từ những phân tích nêu trên, xét thấy quan điểm của Vị đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên được chấp nhận.

[9] Bị cáo; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; được kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bổ sung tiền đối với bị cáo S là 10.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; Điều 38; Điều 50; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng S 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt bổ sung tiền đối với bị cáo S là 5.000.000 đồng.

Áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tổng hợp hình phạt của hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Hoàng S phải chấp hành là 04 (bốn) năm tù. Tổng hợp hình phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hoàng S phải chấp hành là 15.000.000 đồng. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11 tháng 10 năm 2023.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

  • 02 (hai) phong bì được niêm phong số 749/M1 và 749/M2, bên trong phong bì có chứa tính thể màu trắng có khối lượng 0,1188 gam và 1,3834 gam ghi ngày 14/10/2023 với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Văn Thiện.
  • 01 (một) bộ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma tuý bằng thuỷ tinh trong suốt được uốn cong, đầu dạng phểu và 01 (một) ống nhựa màu trắng (niêm phong ký hiệu S4).
  • 220 (hai trăm hai mươi) gam túi nhựa (loại túi zip), có nhiều kích thước khác nhau (niêm phong ký hiệu S2).

Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại TAURUS màu đen – trắng, biển số 59F1-154.44, đã qua sử dụng; 01 (một) cân điện tử màu bạc, đã qua sử dụng (Tạm giữ, niêm phong ký hiệu S3); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh - đen, số IMEI 1: 355043871419850, số IMEI 2: 355043873419858, đã qua sử dụng (niêm phong ký hiệu S1).

Tất cả các vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cầu Kè đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 12/QĐ-VKS-HS, ngày 04/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cầu Kè.

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Hoàng S phải chịu nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Q hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Cầu Kè;
  • - Công an huyện Cầu Kè;
  • - CC.THADS huyện Cầu Kè;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lâm Thành Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦU KÈ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’ và “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger