TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ - ST Ngày: 17 - 5 - 2024 V/v: tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Vũ Văn Lợi
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Vũ Văn Quảng
Bà Tô Thị Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2024/TLST - HNGĐ ngày 04/4/2024 về tranh chấp "Hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXX - ST ngày 02/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Bích H - sinh năm 1982(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn:Anh Trần Văn T - sinh năm 1981(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đinh Thị Bích H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y (nay là xã T), huyện T, tỉnh Phú Thọ ngày 26/7/2007. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc được 15 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong mọi vấn đề. Mâu thuẫn căng thẳng dẫn đến anh, chị sống ly thân không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau hơn 1 năm nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không mang lại hạnh phúc và mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Trần Văn T.
Về con chung: Chị và anh Trần Văn T có 02 con chung là Trần Anh Q – sinh ngày 27/10/2007 và Trần Bảo N – sinh ngày 14/10/2015. Hiện tại các cháu đang sinh sống cùng chị tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai cháu và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Việc anh T cấp dưỡng nuôi con như thế nào là do trách nhiệm với các con.
Về tài sản chung: Chị và anh Trần Văn T tự thoả thuận nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Văn T trình bày:
Về hôn nhân: Về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn như chị H trình bày ở trên. Sau khi kết hôn anh chị chung sống cùng nhau 16 năm, quá trình này vợ chồng có đôi lúc xảy ra xô xát mâu thuẫn nhỏ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách vợ chồng không hợp. Hiện tại anh, chị đã sống ly thân được hơn 1 năm. Nay chị H yêu cầu ly hôn thì quan điểm của anh là không muốn ly hôn vì muốn con cái có đủ cả bố và mẹ, còn chị H xin ly hôn thì chị tự giải quyết.
Về con chung: Anh và chị Đinh Thị Bích H có 02 con chung như chị H trình bày ở trên. Nếu phải ly hôn thì anh đồng ý giao cả hai con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về tài sản chung: Không đề nghị Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Đinh Thị Bích H và anh Trần Văn T là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Trần Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện đang sinh sống tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình do đó yêu cầu khởi kiện này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị H, anh T có đề nghị xét xử vắng mặt vì vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Bích H và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y (nay là xã T), huyện T, tỉnh Phú Thọ ngày 26/7/2007 đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống hạnh phúc được khoảng 16 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung trong mọi vấn đề. Mâu thuẫn căng thẳng dẫn đến anh, chị sống ly thân từ hơn năm nay. Như vậy hôn nhân giữa anh, chị không có hạnh phúc, thực tế hôn nhân không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đinh Thị Bích H, xử cho chị được ly hôn anh Trần Văn T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị Đinh Thị Bích H và anh Trần Văn T có 02 con chung là Trần Anh Q – sinh ngày 27/10/2007 và Trần Bảo N – sinh ngày 14/10/2015. Hiện tại các cháu đang sinh sống cùng tại xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình. Ly hôn, chị H có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung, anh T đồng ý để chị H nuôi dưỡng các con nếu phải ly hôn và nguyện vọng của các cháu mong muốn ở cùng chị H. Vì vậy ly hôn, HĐXX giao cả 02 cháu Trần Anh Q và Trần Bảo N cho chị Đinh Thị Bích H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh T1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về tài sản chung: Chị Đinh Thị Bích H và anh Trần Văn T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
[3] Về án phí: chị Đinh Thị Bích H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đinh Thị Bích H được ly hôn anh Trần Văn T.
2. Về quan hệ con chung: Chị Đinh Thị Bích H và anh Trần Văn T có 02 con chung là Trần Anh Q – sinh ngày 27/10/2007 và Trần Bảo N – sinh ngày 14/10/2015. Ly hôn: Giao cả hai cháu Trần Anh Q, Trần Bảo N cho chị Đinh Thị Bích H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi các cháu tròn 18 tuổi. Ghi nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Anh Trần Văn T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.
3. Về tài sản chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: chị Đinh Thị Bích H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ chị H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002610 tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 04/4/2024 sang thi hành án phí.
5. Về quyền kháng cáo: chị Đinh Thị Bích H và anh Trần Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
*Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Văn Lợi |
Bản án số 28/2024/HNGĐ - ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: H-T Ly hôn
