|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 17-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lê Thị Đông, Nguyên giáo viên Trường THCS Nhựt Tảo – thành phố Tân An, tỉnh Long An.
Bà Nguyễn Thị Tĩnh, Nguyên Phó Trưởng Phòng Giáo dục - Đào tạo thành phố Tân An, tỉnh Long An
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Trọn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Tạ Quang L, sinh ngày 20/02/2006 tại Long An. Nơi cư trú: ấp S, xã T, thị xã K, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Văn N và bà Nguyễn Thị Mộng T; Có một người em sinh năm 2008; Chưa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 09/9/2023 bị Đồn Biên phòng cửa khẩu L2, tỉnh An Giang xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Qua lại bên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh; Ngày 30/10/2023 bị Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam từ ngày 10/3/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Long An cho đến nay. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Phát T1, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (có mặt)
Bị hại: Công ty TNHH T3
Địa chỉ: Số B đường A, KDC P, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của bị hại: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số B đường A, KDC P, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An (Theo văn bản uỷ quyền ngày 05/7/2023). (vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Huỳnh Lê D, sinh năm 1994
Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An. (vắng mặt)
Người làm chứng:
- Nguyễn Kha L1. (vắng mặt)
- Lê Tài Long B. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Tạ Quang L quen biết với đối tượng tên P, sinh năm 1986, quê quán tỉnh Đồng Tháp (không xác định họ tên, địa chỉ cụ thể) ở trọ tại nhà trọ thuộc xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vào khoảng 14 giờ ngày 04/7/2023, bị cáo L rủ P về thành phố T, tỉnh Long An chơi, P đồng ý và điều khiển xe mô tô hiệu Wave màu đỏ (không xác định được biển kiểm soát) của P chở bị cáo L về thành phố T, tỉnh Long An. Khi đến khu vực Cầu V thì cả hai ghé nhà của Lê Trung H, sinh năm: 1991, nơi thường trú tại Ấp E, xã N, huyện T, tỉnh Long An là bạn của bị cáo L chơi. Do không thể nghỉ lại nhà H nên đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo L cùng P và H đến thuê phòng số 404 Nhà nghỉ T4 để nghỉ qua đêm. Khi vào phòng thì bị cáo L lên giường nằm ngủ, đến khoảng 20 giờ 30 phút, bị cáo L thức dậy thì H không có ở phòng, P đang xem điện thoại, bị cáo L hỏi H đâu thì P nói H về trước có việc. Lúc này P rủ bị cáo L về khu vực nhà của bị cáo L tại ấp S, xã T, Thị xã K, tỉnh Long An để trộm xe bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, đồng thời P nói với bị cáo L chỉ việc đi cùng còn lấy trộm xe là do P thực hiện nhưng bị cáo L không đồng ý vì sợ về khu vực gần nhà sẽ bị người quen phát hiện. Nghe vậy, P bàn bạc với bị cáo L sẽ trộm xe tại nhà nghỉ T4, P là người thực hiện còn bị cáo L có nhiệm vụ đứng cảnh giới. Sau đó, cả hai đi xuống trả phòng, sau khi trả phòng xong thì bị cáo L đi đến khu vực để xe của nhà nghỉ để dẫn xe của P ra đồng thời cảnh giới lễ tân cho P lấy trộm xe, lúc này bị cáo L thấy P đi đến dùng đoản bẻ khóa xe Future màu xanh biển số 62G1-510.04 thuộc sở hữu của ông Huỳnh Lê D là khách đến thuê nhà nghĩ ở qua đêm, khi đến nhà nghỉ thì ông D có giao xe mô tô nói trên cho nhà nghỉ quản lý. Sau khi bẻ khóa xong thì P yêu cầu bị cáo L chạy xe 62G1-510.04 vừa bẻ khóa được, còn P chạy xe Wave đỏ là phương tiện của cả hai đi lúc đầu. Bị cáo L và P điều khiển xe ra khỏi nhà nghỉ chạy về hướng Thành phố Hồ Chí Minh, khi đi trên tuyến Quốc lộ A qua địa bàn huyện B, tỉnh Long An thì P bán xe Wave đỏ cho một người không quen biết trên đường với giá 1.500.000 đồng. Sau khi bán xe thì bị cáo L và P đi cùng trên xe mô tô biển số 62G1-510.04 vừa trộm được về lại nhà trọ của P để cất giấu. Đến khoảng 02 giờ ngày 05/7/2023, P điều khiển xe mô tô hiệu Future màu xanh biển số 62G1-510.04 đi bán, bị cáo L ngủ tại phòng trọ. Sau khi bán xe xong thì P thông báo cho bị cáo L là xe mô tô
biển số 62G1-510.04 được bán với giá 20.000.000 đồng và chia cho L 6.000.000 đồng. Quá trình thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo L và P đều bị camera an ninh của Nhà nghỉ T4 ghi lại. Đến ngày 30/01/2024 có người đàn ông tên H1 (không rõ họ tên, địa chỉ) đến trả lại xe mô tô hiệu Future màu xanh biển số 62G1-510.04 cho ông Huỳnh Lê D.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 72/KL-HĐĐG ngày 12 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Future Fi 125 màu xanh đen, BKS: 62G1-510.04 đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 04/7/2023 là 23.000.000 đồng.
Xử lý vật chứng: đã trao trả xe mô tô hiệu Future màu xanh biển số 62G1-510.04 cho người đại diện của bị hại là ông Nguyễn Văn T2 nhận.
Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn T2 là người đại diện của bị hại Công ty TNHH T3 đã bồi thường cho ông Huỳnh Lê D số tiền 35.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn T2 là người đại diện của bị hại Công ty TNHH T3 đã nhận lại tài sản bị bị cáo chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Future màu xanh biển số 62G1-510.04. Ông D và ông T2 không có yêu cầu gì khác.
Tại phiên tòa, bị cáo Tạ Quang L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và xác định hành vi của bị cáo Tạ Quang L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Tạ Quang L phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tạ Quang L từ 06 tháng đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự : Tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có yêu cầu gì khác nên không đề cập đến.
Đối với người tên H1 là người trả lại xe mô tô hiệu Future màu xanh biển số 62G1-510.04 cho ông Huỳnh Lê D: Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau
Bị cáo Tạ Quang L phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Ý kiến của người bào chữa của bị cáo cho rằng: bị cáo Tạ Quang L có hành vi phạm tội đã rõ, thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Tạ Quang L như sau: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại
phiên tòa hôm nay bị cáo L có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ít nghiêm trọng và khi phạm tội, bị cáo là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; Tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo khi quyết định hình phạt
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói lời sau cùng
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người đại diện của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Lời khai của bị cáo Tạ Quang L tại phiên tòa phù lợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 20 giờ 45 phút, ngày 04/7/2023, tại nhà nghỉ T4, địa chỉ số B đường số A, khu dân cư đầu tư xây dựng, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Tạ Quang L đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt một xe mô tô hiệu Honda Future Fi 125 màu xanh đen, biển số 62G1-510.04 của anh Huỳnh Lê D đang gửi cho nhà nghĩ T có giá trị là 23.000.000 đồng.
Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”
Bị cáo Tạ Quang L có năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có hành vi cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng giá trị là 23.000.000 đồng nên bị
cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Tạ Quang L về tội “trộm cắp tài sản” theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
[3.1] Hành vi phạm tội do bị cáo L thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động, thích hưởng thụ nên lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản được thu hồi trả cho bị hại, gia đình bị cáo có bà nội là thương binh, ông cố là Liệt sĩ. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt. Ngòai ra, bị cáo L thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo được áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo các điều 90, 91 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu do ngày 09/9/2023 bị Đồn Biên phòng cửa khẩu L2, tỉnh An Giang xử phạt 2.000.000 đồng về hành vi Qua lại bên giới quốc gia mà không làm thủ tục nhập cảnh; Ngày 30/10/2023 bị Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
[4] Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Đối với người tên P: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh đối tượng Trương Văn P1, sinh năm 1986, quê quán tỉnh Đồng Tháp (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể), từng ở trọ tại nhà T Hẻm H, Tổ A, ấp E, xã V, huyện B, TP Hồ Chí Minh. Qua xác minh được biết địa chỉ E Hẻm H, Tổ A, ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh là nhà trọ tháng, không có đối tượng tên
Trương Văn P1, sinh năm 1986, quê quán tỉnh Đồng Tháp đăng ký tạm trú và sinh sống tại nhà trọ. Kiểm tra hệ thống dữ liệu đăng ký tạm trú khu vực ấp E, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh không có tên Trương Văn P1 đăng ký tạm trú trên địa bàn. Hiện chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng Trương Văn P1, cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục rà soát xác minh để tiến hành xử sau là phù hợp.
Đối với người tên H1 là người trả lại xe mô tô hiệu Future màu xanh biển số 62G1-510.04 cho ông Huỳnh Lê D: Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.
Đối với Lê Trung H không bàn bạc và không thực hiện hành vi trộm cắp cùng bị cáo L và P1 nên không có cơ sở để xử lý hình sự là phù hợp.
[6] Về trách nhiệm dân sự: ông Nguyễn Văn T2 là người đại diện hợp pháp của bị hại Công ty TNHH T3 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô hiệu Future màu xanh biển số 62G1-510.04. Ông Huỳnh Lê D là chủ sở hữu của xe mô tô hiệu Future màu xanh biển số 62G1-510.04 đã nhận số tiền bồi thường của Công ty TNHH T3 là 35.000.000 đồng. Ông Nguyễn Văn T2 đại diện bị hại và ông Huỳnh Lê D không có yêu càu gì khác nên không đề cập đến.
[7] Về vật chứng: Đã xử lý xong nên không đề cập
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Tạ Quang L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Tạ Quang L 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/3/2024.
Căn cứ vào Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Tạ Quang L 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Tạ Quang L phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Cẩm Nhung |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tạ Quang L "Trộm cắp tài sản"
