Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HSST

Ngày: 17 – 4 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Bình

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân;

Ông Lưu Xuân Hiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân thành phố Sông Công xét xử trực tiếp, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024 /TLST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024 /QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Văn T, sinh ngày 02 tháng 10 năm 1993, tại Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nơi cư trú: Tổ C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 09/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đinh Văn T1 và bà Chu Thị C; bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T2, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2013;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 20/02/2012, Công an phường N, quận L, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 24/02/2012.

Ngày 06/5/2019, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 20/7/2019.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/11/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt tại phiên toà)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Đinh Văn T1 – sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt)
  • + Anh Nguyễn Trường G – sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm H, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt )
  • + Bà Trần Thị M - sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ D, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người chứng kiến:

  • + Ông Hoàng Văn T3, sinh năm 1959; địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).
  • + Ông Lê Văn L, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 04/11/2023, tổ công tác Công an xã T đang làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại đoạn đường chợ C1 hướng ra Quốc lộ C cũ, thuộc xóm T, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên có đối tượng có biểu hiện vi phạm tội phạm về ma túy, tổ công tác tiến hành xác minh, khi đến nơi thì phát hiện Đinh Văn T (sinh năm: 1993, trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, nơi ở hiện tại: tổ C, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) đang dừng xe ô tô (loại xe tải có mui, màu vàng) biển kiểm soát 37S - 6902 bên lề đường, tổ công tác tiến hành tiếp cận kiểm tra thì tự nhận là chủ chiếc xe ô tô BKS: 37S – 6902. Tổ công tác mời người chứng kiến rồi tiến hành kiểm tra người và phương tiện của T. Quá trình kiểm tra thu giữ tại tay Thào 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia gắn thẻ sim: 0382.632.620, tiếp tục kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát 37S – 6902 đã phát hiện, thu giữ tại hộc để đồ bên dưới cửa gió điều hòa bên lái 02 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, T khai nhận đó là ma túy, loại Heroine T4 mua về để sử dụng cho bản thân, tại khe để đồ phía sau ghế phụ phát hiện thu giữ 01 bơm tiêm và 01 lọ nước cất nhãn hiệu NOVOCAIN. Tại thùng xe phát hiện thu giữ 01 kìm cộng lực, 01 xà cầy, 01 máy mài cầm tay. Tổ công tác Công an xã T đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T4, thu giữ 02 gói ma túy. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe ô tô, màu sơn vàng, biển kiểm soát 37S - 6902. Cùng ngày Công an xã T đã bàn giao hồ sơ, tài liệu cùng đối tượng Đinh Văn T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S để giải quyết.

Tại bản kết luận giám định số 1269/KL - KTHS ngày 13/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại heroine (heroin) có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất: Khối lượng ban đầu là 0,196 gam.

Quá trình điều tra làm rõ: Thào là người nghiện chất ma túy Heroine từ năm 2016 đến nay. Khoảng 19h00 ngày 04/11/2023, T điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát: 37S – 6902 đi từ phòng trọ thuê tại tổ C, phường Q, thành phố T đến nhà người phụ nữ tên M, khoảng từ 35 tuổi đến 40 tuổi, nhà ở phường G, thành phố T để mua ma túy, khi đến nhà T đứng ngoài cửa và nói “Lấy cho em hai trăm nghìn” rồi đưa tiền qua song cửa cho M, do đã mua bán ma túy với nhau nhiều lần nên M cầm tiền, đưa cho T 02 gói giấy, biết bên trong là ma túy nên T cầm rồi đi ra xe ô tô cất vào hộc để đồ bên dưới cửa gió điều hòa bên lái, điều khiển xe ôtô đi theo đường Quốc lộ 3 đến địa phận xã T, thành phố S mục đích tìm nhặt vỏ bao xi măng và phế liệu bán lấy tiền, trên đường đi Thào vào hiệu thuốc mua 01 xi lanh, 01 lọ nước cất rồi giấu ở phía sau ghế phụ của xe, khi đến khu xóm T, xã T, thành phố S thấy một nhà đang xây dựng có vỏ bao xi măng nên dừng xe để đi vào nhặt vỏ bao và sắt vụn thì bị Công an xã T đến kiểm tra, phát hiện thu giữ 02 gói ma túy và các tài sản có liên quan. Tổ Công tác đã niêm phong số vật chứng nêu trên.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án .

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,186 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 02 gói giấy màu trắng vỏ bì niêm phong ký hiệu A; 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 01 xi lanh và 01 lọ nước Novocain; 01 bì niêm phong ký hiệu C1 bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xám xanh, đã qua sử dụng, số seri: 356048/03/488765/2, lắp sim số 0382.632.620; 01 xe ô tô nhãn hiệu SYMT880 tải có mui, số loại: SC1-A, màu sơn vàng, số máy: SVMGAA001567, số khung: RPGCA25GL9V-100255, dán giấy niêm phong tại bờ mép cánh cửa trái, phải cabin và phía sau thùng xe, BKS: 37S – 6902 được chuyển bảo quản theo đúng quy trình quản lý vật chứng.

Đối với chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu Makita, 01 xà cầy dài 96cm, 01 kìm cộng lực có tay cầm màu trắng dài 75cm đã trả cho ông Đinh Văn T1 (sinh năm: 1969, trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn) là chủ sở hữu hợp pháp. Đối với chiếc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1505 thu giữ ngày 05/11/2023 của bà Trần Thị M (sinh năm: 1975, trú tại: tổ D, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S đã trả lại chủ sở hữu.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công đã truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Đinh Văn T về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Đinh Văn T từ 18 đến 24 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; về vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,186 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 02 gói giấy màu trắng vỏ bì niêm phong ký hiệu A; 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 01 xi lanh và 01 lọ nước Novocain; Trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu SYMT880 tải có mui, số loại: SC1-A, màu sơn vàng, số máy: SVMGAA001567, số khung: RPGCA25GL9V-100255, dán giấy niêm phong tại bờ mép cánh cửa trái, phải cabin và phía sau thùng xe. BKS: 37S – 6902; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xám xanh, đã qua sử dụng, số seri: 356048/03/488765/2; lắp sim số 0382.632.620 đựng trong 01 bì niêm phong ký hiệu C1. Về án phí : Buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, bị cáo Đinh Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Đinh Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định: Khoảng 20 giờ ngày 04/11/2023, tại đường Q, thuộc xóm T, xã T, thành phố S, Đinh Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,196 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác thuộc Công an xã T, thành phố S phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Đinh Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) “ Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”

[3] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo Đinh Văn T thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo Đinh Văn T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội.

3.2. Về nhân thân: Bị cáo Thào sinh ra, lớn lên tại địa phương, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12, làm lao động tự do. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, làm chủ được hành vi của mình, đã được các cơ quan, tổ chức giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng do bản thân thiếu tu dưỡng rèn luyện, không tiến bộ mà tiếp tục mắc vào tệ nạn ma tuý nên dẫn đến phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 20/02/2012, đã bị Công an phường N, quận L, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 24/02/2012. Ngày 06/5/2019, đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 20/7/2019.

3.3. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, hiểu rõ về tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn cố tình phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp có tính chất nghiêm trọng, hành vi đó gây nguy hiểm cho xã hội, là một trong các nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được cơ quan, tổ chức giáo dục và cải tạo nhiều lần nhưng không tiến bộ vẫn tiếp tục mắc tệ nạn xã hội, nên cần phải xét xử bị cáo bằng án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian theo đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để giáo dục đối với bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa, giáo dục chung. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc xét xử bị cáo T mức án phạt tù phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo T mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân không nhằm mục đích thu lời bất chính, bị cáo không có tài sản, thu nhập nên xét không cần thiết áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.

[6] Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án: Đối với chiếc máy mài cầm tay nhãn hiệu Makita, 01 xà cầy dài 96cm, 01 kìm cộng lực có tay cầm màu trắng dài 75cm cơ quan điều tra thu giữ xác định là tài sản hợp pháp của ông Đinh Văn T1 (sinh năm: 1969, trú tại: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Bắc Kạn). Đối với chiếc 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1505 thu giữ ngày 05/11/2023 của bà Trần Thị M (sinh năm: 1975, trú tại: tổ D, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên) xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S đã trả lại chủ sở hữu là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu SYMT880 tải có mui, số loại: SC1-A, màu sơn vàng, số máy: SVMGAA001567, số khung: RPGCA25GL9V-100255, dán giấy niêm phong tại bờ mép cánh cửa trái, phải cabin và phía sau thùng xe, BKS: 37S – 6902 do bị cáo mua của anh Nguyễn Trường G với số tiền 28.000.000 đồng, anh G đã nhận đủ số tiền và giao toàn bộ giấy tờ xe cho gia đình bị cáo nên xác định xe thuộc quyền sở hữu của bị cáo, anh G không có yêu cầu, đề nghị gì khác; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xám xanh, đã qua sử dụng, số seri: 356048/03/488765/2; lắp sim số 0382.632.620 đựng trong 01 bì niêm phong ký hiệu C1 là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội; do vậy cần trả lại xe ô tô và điện thoại cho bị cáo là phù hợp.

Đối với số ma túy bị thu giữ của Đinh Văn T còn lại sau giám định và một số đồ vật liên quan khác đang được bảo quản tại Cơ quan thi hành án dân sự là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ của Đinh Văn T, T khai mua của Trần Thị M. Quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định việc M có liên quan đến hành vi bán ma túy cho T nên không có căn cứ để xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo Đinh Văn T bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và của người bào chữa tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Các Điều 106, 136, 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T 20 (Hai mươi) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2023.

* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Đinh Văn T.

2. Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiếp tục tạm giam bị cáo Đinh Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: : 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,186 gam mẫu A1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 02 gói giấy màu trắng vỏ bì niêm phong ký hiệu A; 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong có 01 xi lanh và 01 lọ nước Novocain.

- Trả lại cho bị cáo Đinh Văn T: 01 xe ô tô nhãn hiệu SYMT880 tải có mui, số loại: SC1-A, màu sơn vàng, số máy: SVMGAA001567, số khung: RPGCA25GL9V-100255, dán giấy niêm phong tại bờ mép cánh cửa trái, phải cabin và phía sau thùng xe, BKS: 37S – 6902; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu xám xanh, đã qua sử dụng, số seri: 356048/03/488765/2; lắp sim số 0382.632.620 đựng trong 01 bì niêm phong ký hiệu C1.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

4. Về án phí: Bị cáo Đinh Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Đinh Văn T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Văn T1, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh G, chị M. Báo cho bị cáo T, ông T1 biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Trường G, chị Trần Thị M được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND TP. Sông Công;
  • - Công an TP Sông Công;
  • - Chi cục THADS TP Sông Công;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - UBND xã, phường nơi cư trú của bị cáo (Thông báo kết quả xét xử);
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger