|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/5/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Bỉnh Quyền
2. Bà Lường Thị Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dân - Thư ký Tòa án Tòa án ND huyện Hoằng Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Đỗ Diệu Linh, Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tuấn S, sinh năm 1994. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: thôn B, xã Hoằng C,huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1986. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã Hoằng C, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/02/2024, bản tự khai ngày 13/3/2024 nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn S trình bày:
Anh Nguyễn Tuấn S và chị Phạm Thị H tự nguyện kết hôn năm 2005 tại UBND xã Hoằng C, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau đến năm 2016 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp, vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh S đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với chị H.
Về con: Vợ chồng anh chị có 02 con chung cháu tên là: Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 03/9/2006 và cháu Nguyễn Tuấn Trường, sinh ngày 02/10/2008. Ly hôn, anh S có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng hai cháu Kiệt và Trường; Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Tuấn S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản và công nợ: Anh Nguyễn Tuấn S không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Phạm Thị H: Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do, Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho chị Phạm Thị Hồng (chị gái chị H) và chị Hồng cam đoan có trách nhiệm giao thông báo lại cho chị H.
Tại biên bản ghi lời khai của chị Phạm Thị Hồng ngày 13/3/2024 thể hiện:
Chị Phạm Thị H và anh Nguyễn Tuấn S tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng C cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2005. Sau khi cưới vợ chồng sống với nhau bình thường. Đến năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh S lầm lì, dẫn đến vợ chồng tình cảm ngày càng dạn nứt. Nay anh S làm đơn xin ly hôn quan điểm của chị H mong muốn vợ chồng đoàn tụ.
Về con chung: Vợ chồng chị Phạm Thị H, anh Nguyễn Tuấn S có 02 con chung là Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 03/9/2006 và cháu Nguyễn Tuấn Trường, sinh ngày 02/10/2008. Nếu anh S cương quyết ly hôn thì chị H có nguyện vọng được nuôi cháu Kiệt; Về cấp dưỡng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại lời khai của cháu Nguyễn Tuấn Kiệt thể hiện: Cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Tại lời khai của cháu Nguyễn Tuấn Trường thể hiện: Cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đầy đủ, đảm bảo trình tự, thủ tục từ khi thụ lý, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn S đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của BLTTDS. Bị đơn chị Phạm Thị H chưa thực thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Tuấn S được ly hôn chị Phạm Thị H.
Về con chung: Công nhận anh Nguyễn Tuấn S và chị Phạm Thị H có 02 con chung cháu tên là Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 03/9/2006 và cháu Nguyễn Tuấn Trường, sinh ngày 02/10/2008. Để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho các cháu, giao cho mỗi người trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là phù hợp. Giao cháu Nguyễn Tuấn Trường cho anh S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Tuấn Kiệt cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 BLTTDS 2015; Điều 24, Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 anh Nguyễn Tuấn S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Tuấn S khởi kiện xin ly hôn chị Phạm Thị H và nuôi con chung. Căn cứ vào quy định tại Điều 68 BLTTDS xác định anh S là nguyên đơn, chị H là bị đơn.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị H có địa chỉ cư trú tại xã Hoằng C, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự xác định yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Tuấn S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[1.3] Về quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Tuấn S khởi kiện xin ly hôn chị Phạm Thị H và đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con chung nên được xác định là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc lĩnh vực dân sự.
Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân dẫn đến tình trạng tranh chấp mâu thuẫn theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự, lãnh đạo địa phương xã Hoằng C xác nhận: Anh Nguyễn Tuấn S và chị Phạm Thị H tự nguyện kết hôn được UBND xã Hoằng C cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2005, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm bắt được. Vì gia đình anh chị không báo cáo, vợ chồng anh chị có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 03/9/2006 và cháu Nguyễn Tuấn Trường, sinh ngày 02/10/2008.
Ngày 12/4/2024 bị đơn chị Phạm Thị H đã được thông báo về phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt không có lý do. Ngày 26/4/2024 Tòa án đưa vụ án ra xét xử nhưng chị H vắng mặt không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nên HĐXX hoãn phiên tòa. Căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 233, 235 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, chị Hiền vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Tuấn S và chị Phạm Thị H kết hôn với nhau vào năm 2005 trên cơ sở tự nguyện, do Ủy ban nhân dân xã Hoằng C, huyện Hoằng Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân gia đình là hôn nhân hợp pháp.
Anh S có nguyện vọng xin được ly hôn chị Hiền. Chị H có nguyện vọng được đoàn tụ nhưng đến nay anh S vẫn cương quyết xin được ly hôn chị. Tòa án thụ lý vụ án từ ngày 27/02/2024 cho đến nay anh S vẫn giữ quan điểm xin được ly hôn chị H. HĐXX xét thấy tình cảm của anh, chị thực sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 51,56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Tuấn S là cho anh được ly hôn với chị Phạm Thị H là phù hợp với tình trạng hôn nhân của anh chị.
[2.2] Về con: Anh Nguyễn Tuấn S và chị Phạm Thị H có 02 con chung là cháu Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 03/9/2006 và cháu Nguyễn Tuấn Trường, sinh ngày 02/10/2008.
Xét yêu cầu nuôi con của anh Nguyễn Tuấn S: Anh có nguyện vọng chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 cháu. Xét thấy, việc giao cả hai cháu cho anh S nuôi là không phù hợp. Vì anh S là lao động tự do, thu nhập không ổn định. Mặt khác cháu Kiệt có nguyện vọng được ở với chị H, cháu Trường có nguyện vọng ở với anh S, nên giao cho mỗi người nuôi một cháu là phù hợp. Do đó, giao cháu Trường cho anh S chăm sóc nuôi dưỡng.
Đối với yêu cầu của chị Phạm Thị H: Chị có nguyện vọng nuôi cháu Nguyễn Tuấn Kiệt; cháu Kiệt có nguyện vọng được ở với chị. Hiện nay chị H là lao động tự do. Nên chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị giao cháu Kiệt cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về tài sản: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[4] Về án phí: Nguyên đơn là anh Nguyễn Tuấn S phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 269; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 24; điểm a khoản 5; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Về hôn nhân: Anh Nguyễn Tuấn S được ly hôn với chị Phạm Thị H.
Về con: Công nhận các cháu Nguyễn Tuấn Kiệt, sinh ngày 03/9/2006 và cháu Nguyễn Tuấn Trường, sinh ngày 02/10/2008, là con chung của anh Nguyễn Tuấn S và chị Phạm Thị H.
Giao cháu Nguyễn Tuấn Trường cho anh Nguyễn Tuấn S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Nguyễn Tuấn Kiệt cho chị Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi về pháp luật. Chị Phạm Thị H, anh Nguyễn Tuấn S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh S, chị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung. Anh S, chị H và các thành viên trong gia đình không ai được cản trở. Nếu anh S, chị H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì anh S, chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh chị.
Về án phí: Anh Nguyễn Tuấn S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003737 ngày 26 tháng 2 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa. Anh Nguyễn Tuấn S đã thi hành xong tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn anh Nguyễn Tuấn S, bị đơn chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Phương |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
