Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ – ST.

Ngày: 15/8/2024

V/v : Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Hà Thị Long
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Nguyễn Văn Thơm
Bà Trịnh Thị Cúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 2 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Cao Thị T – SN: 1979. “Vắng mặt”

Địa chỉ: TDP Q, phường T, TP S, tỉnh Thanh Hóa

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn B - SN 1974. “Vắng mặt”

Nơi cư trú cuối cùng: TDP Q, phường T, TP S, tỉnh Thanh Hóa.

(Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn B kết hôn với nhau năm 2004 trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2006 do kinh tế gia đình khó khăn, anh B đã đi làm ăn xa, thời gian đầu anh còn liên lạc với gia đình, nhưng từ tháng 10/2006 thì anh B không còn liên lạc với bất kỳ ai trong gia đình, chị và gia đình hai bên nội ngoại cũng đã cố gắng liên lạc, tìm kiếm, hỏi thăm nhiều nơi trên mọi phương diện với anh B nhưng đều không có kết quả. Vì vậy, Chị T đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh B mất tích. Ngày 08/8/2023 Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn đã có Quyết định số 03/2023/QDDST-VDS tuyên bố anh B mất tích. Kể từ khi có Quyết định tuyên bố mất tích đến nay anh B cũng không thấy xuất hiện và liên lạc với gia đình. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

Về con: Anh chị có 01 con chung: Cháu Nguyễn Văn Quốc B1, sinh ngày 26/12/2004. Hiện nay cháu đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh B theo quy định của pháp luật nhưng do anh B đã bị Tòa án tuyên bố mất tích nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được mà chỉ mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ.

Tại phiên tòa hôm nay: anh B và chị T đều vắng mặt. Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành của nguyên đơn, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị T, anh B để tham gia phiên tòa nhưng chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh B vắng mặt lần thứ hai, Tòa án tiến hành xử vắng mặt chị T, anh B là đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn đã bị Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn tuyên bố mất tích và có nơi cư trú cuối cùng tại thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy Tòa án thành phố S thụ lý, giải quyết là đúng quy định theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Mặc dù đã được tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng anh B vắng mặt, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS giải quyết vắng mặt chị T anh B là đúng quy định.

[2] Về hôn nhân: Chị Cao Thị T và anh Nguyễn Văn B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện,có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 10/2006 anh B đã bỏ đi biệt tích cho đến nay không có tin tức gì mặc dù chị T và gia đình đã tìm kiếm nhưng không có kết quả. Theo yêu cầu của chị T, Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn đã có Quyết định số 03/2023/QDDST-VDS ngày 08/8/2023 tuyên bố anh B mất tích. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên tha thiết xin ly hôn. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn với anh B là phù hợp.

[3] Về con: Chị T, anh B có 01 con chung là cháu Nguyễn Văn Quốc B1, sinh ngày 26/12/2004 . Hiện nay cháu đã thành niên nên không yêu cầu giải quyết.

[4] Về tài sản, công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/QH14.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm a khoản 1 Điều 40 ; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; khoản 1 Điều 273 BLTTDS. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Xử cho chị Cao Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn B

Về con: Công nhận cháu Nguyễn Văn Quốc B1, sinh ngày 26/12/2004 là con chung của chị T và anh B. Hiện nay cháu B1 đã thành niên nên chị T không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Án phí: Chị T phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai số 0004787 ngày 26/2/2024 tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn (chị T đã nộp đủ án phí).

Chị T, Anh B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPSS;
  • - THA- TPSS;
  • - UBND phường Trung Sơn, TPSS;
  • - Lưu hồ sơ .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ – ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị T được ly hôn anh B
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger