Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/DS-ST

Ngày 15 - 8 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.

Các hội thẩm nhân dân:

  • Bà Hà Thị Thanh Liêm.
  • Bà Nguyễn Thị Kim Cúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân thành phố S xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp dân sự sơ thẩm thụ lý số 48/2024/TLST – DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐS-DS ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1958, ông Lê Văn L, sinh năm 1959. Địa chỉ: Tổ D, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đàm Mạnh H. Địa chỉ: Tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh P, anh Sầm Việt A. Địa chỉ: Tổ F, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Bà Nguyễn Thị Thúy D, sinh năm 1953, ông Trần Đình Y, sinh năm 1950. Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đàm Mạnh H. Địa chỉ: Tổ E, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

4. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Phương Văn V. Địa chỉ: Tổ D, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

5. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị Y1. Địa chỉ: Tổ F, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 18/10/2022 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L trình bày:

Gia đình bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L có một mảnh đất nương có diện tích là 1445,1m², nguồn gốc do nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Xuân Q và bà Hoàng Thị T1, địa chỉ: tổ D, Q từ năm 1987, giá trị chuyển nhượng là hai chỉ vàng. Hàng năm gia đình đã trồng ngô, trồng đỗ để phục vụ nhu cầu sinh hoạt trong gia đình. Mặc dù ông Q + bà T1 đều đã chết nhưng con trai ruột của ông bà là anh Nguyễn Tiến L1 cũng chứng kiến và biết sự việc chuyển nhượng nêu trên. Thửa đất nương nêu trên có số lô, số thửa, có tên trên bản đồ của phường C, nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông bà Thảo L2 đã làm kè đá, làm bờ rào, đổ cọc bê tông, kèm dây thép gai bao quanh để trồng cây ăn quả và làm nương. Đến năm 2019 vợ chồng chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm Việt A cùng trú tại tổ F, phường Q, thành phố S đã tự ý mang máy ủi đến phá vỡ bờ toàn bộ kè đá, làm hỏng bờ rào và làm đổ cọc bê tông, dây thép gai, phủ hàng loạt đất đá lên trên và tự nhận là đất nương của mình do mua lại của bà Nguyễn Thị Ngọc N (dì ruột của chị P), hai gia đình tranh chấp với nhau từ năm 2019 đến nay, đã được tham gia hòa giải, giải quyết tranh chấp giữa 3 hộ gia đình gồm gia đình ông bà Thảo L2, gia đình ông bà Dự Y2 và gia đình chị P, do UBND phường C + UBND phường Quyết Tâm + UBND thành phố S phối hợp giải quyết nhưng không thành.

Ông bà Thảo L2 khẳng định đây là đất của gia đình. Việc vợ chồng anh Việt A và chị P tự ý san ủi, đổ đất lấn chiếm và tự nhận khoảng 200m² đất làm nương của gia đình ông bà là hoàn toàn sai.

Ngày 08/02/2021, UBND thành phố cũng đã có kết quả xác minh và trả lời bằng văn bản số 333/UBND – TNMT, theo đó xác định gia đình ông bà Thảo L2 được sử dụng thửa đất trồng cây lâu năm là 1445,1m², thửa đất số 157, thuộc tờ bản đồ số 12, tại bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La được đo đạc năm 2013, đã sử dụng đúng mục đích, ổn định và không tranh chấp.

Ông bà Thảo L2 yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm Việt A trả lại diện tích đất 321,4m² loại đất trồng cây lâu năm, vị trí thửa đất số 157, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12, tại Bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

* Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh P và Anh Sầm Việt A: đã được thông báo thụ lý vụ án, triệu tập nộp các văn bản ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có văn bản ý kiến nộp, gửi cho Tòa án.

Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/6/2024 chị Nguyễn Thị Thanh P có mặt và không nhất trí với kết quả đo đạc. Thực tế chị P có 20m kéo dài mặt đường (Hoàng Văn T2) sâu vào 20m, phía đường giáp nhà ông bà Dự Y2, phía sau giáp kè suối, phía đi ra đường trường Chính trị cũ giáp nhà anh Cường T3. Năm 2016 đã bán cho ông Phương Văn V và nhà bà Thảo L2 có thỏa thuận đổ đất và đổi chác gì thì chị P không liên quan. Hiện nay chị P không còn quản lý sử dụng diện tích đất trên nên không liên quan đến việc tranh chấp

Theo biên bản lấy lời khai người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Phương Văn V trình bày: Đối với điện tích thửa đất đang có tranh chấp, ông V mua của bà Nguyễn Thị Y1 (mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị Thanh P) là 400m². Việc mua bán chuyển nhượng với ông bà Yến H1 không liên quan đến con gái Nguyễn Thị Thanh P cũng như không liên quan đến ông bà Thảo L2, ông bà Dự Y2. Đối với việc tranh chấp giữa ông bà Thảo L2, ông bà Dự Y2 với chị P anh Việt A, ông V không liên quan và đề nghị không tham gia các buổi làm việc có liên quan đến chị P và anh Việt A.

Hiện nay diện tích đất trên để trống, gia đình ông V không sử dụng. Trường hợp phát sinh tranh chấp với với bà Nguyễn Thị Y1 thì ông V sẽ khởi kiện vụ án khác.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị Thúy D ông Trần Đình Y trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Trần Đình Y có mảnh nương liền kề mảnh đất nương của gia đình ông bà Thảo L2. Hai gia đình đã sử dụng ổn định từ trước năm 1990 đến năm 2019 không có tranh chấp với ai.

Gia đình đã sử dụng đất để trồng ngô, đỗ, có số lô, số thửa, có tên trên bản đồ địa chính phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình ông bà Dự Y2 đã làm kè đá, làm bờ rào và đổ cọc bê tông, quấn dây thép gai để trồng cây ăn quả và giữ đất nhưng gia đình chị P và anh Việt A đã tự ý đem máy xúc đến phá kè đá, làm hỏng bờ rào, đổ cọc bê tông, vùi đất đá lên trên và tự nhận là đất của mình mua lại của bà Nguyễn Thị Ngọc N (là dì ruột của chị P) rồi bán cho ông Phương Văn V là không đúng.

Ngày 08/02/2021, UBND thành phố cũng đã có kết quả xác minh và trả lời bằng văn bản số 333/UBND – TNMT, theo đó xác định gia đình ông bà Dự Y2 được sử dụng thửa đất lâu năm là 1219,7m², thửa đất thuộc tờ bản đồ số 12, tại bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La được đo đạc năm 2013, sử dụng đúng mục đích, ổn định và không tranh chấp.

Ông bà Dự Y2 yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh P, anh Sầm Việt A trả lại diện tích đất là 209,6m², loại đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 44, tờ bản đồ địa chính số 12 tại Bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Theo biên bản xác minh người làm chứng bà Nguyễn Thị Y1 trình bày: Đối với nguồn gốc đất đang có tranh chấp là do anh Ma Khả H2. Địa chỉ: Tổ E, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La và anh Bùi Văn H3 (D2) mua của anh Hồ Ngọc C để làm bãi đổ đá. Sau đó anh H2, anh H3 bán cho anh V1 (công an). Sau đó anh V1 bán cho chị Nguyễn Thị Ngọc N (là em gái bà Y1) vợ của Bùi Văn H3 (Du). Đến khoảng năm 2015-2017 bà N bán lại cho con gái Nguyễn Thị Thanh P. Sau đó bà Y1 bán lại cho ông Phương Văn V. Hiện nay diện tích đất trên đã bán cho gia đình ông Phương Văn V nên không còn liên quan đến gia đình bà Y1 cũng như con gái Nguyễn Thị Thanh P và con rể Sầm Việt A.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Ý kiến tranh luận của nguyên đơn: đề nghị chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm Việt A trả lại diện tích đất 321,4m² loại đất trồng cây lâu năm, vị trí thửa đất số 157, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12, vị trí thửa đất tại Bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Ý kiến tranh luận của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: đề nghị chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm Việt A trả lại diện tích đất là 209,6m², loại đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 44, tờ bản đồ địa chính số 12 tại Bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm như sau:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán đã thực hiện đúng đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc thụ lý vụ việc, xác minh thu thập tài liệu chứng cứ. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quuy phạm pháp luật liên quan về xét xử vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Các đương sự chưa thực hiện đúng, đủ các quy định từ Điều 70, 71, 72, 73 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khong có mặt, không tham gia đầy đủ các phiên họp, tiếp cận công khai chứng cứ về việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án:

Căn cứ các Điều 11, 105, 115, 166, 169, 189 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 95, 100 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập. Buộc bị đơn trả lại diện tích đất cho bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L; bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Trần Đình Y.

Ông Phương Văn V có quyền khởi kiện một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.

Buộc bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm Việt A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phi tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thẩm quyền, tố tụng: Vụ án theo đơn khởi kiện của bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L, yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Trần Đình Y đối với chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm V2 anh cư trú tại thành phố S thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La theo đúng quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bị đơn đã được thông báo, triệu tập, giao hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải, xét xử vụ án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt, nguyên đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.

Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và thông báo kết quả cho bị đơn; Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập nhưng vắng mặt. HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người làm chứng theo đúng quy định tại các Điều 227, 228, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[2] Về nội dung vụ án:

Về nguồn gốc đất: Trong vụ án này, thửa đất trồng cây lâu năm gia đình ông bà Thảo L2 nhận chuyển nhượng của ông bà Quyết T4 có diện tích là 1445,1m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN), tại thửa đất số 157, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12 tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, qua đo đạc thực tế tại thời điểm giải quyết vụ án diện tích còn lại là 1.306,5m²;

Thửa đất gia đình ông bà Dự Y2 tự khai phá để làm nương từ trước năm 1990, có diện tích là 1219,7m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN), tại thửa đất số 44, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12 tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, qua đo đạc thực tế tại thời điểm giải quyết vụ án diện tích còn lại là 1.172,6m²;

Về quá trình quản lý sử dụng: Cả hai gia đình ông bà Thảo L2, ông bà Dự Y2 sử dụng ổn định, không tranh chấp với nhau. Đến năm 2019 mới xảy ra tranh chấp do chị P và anh Việt A tự nhận là đất của mình và đem máy xúc đến phá bỏ tường rào và bờ kè xây bằng đá, giăng dây thép gai bảo vệ.

Về việc kê khai đăng ký: Bà T và bà D đã kê khai đăng ký đất đai tại cơ quan có thẩm quyền, có tên trong sổ mục kê của phường C, và có tên quy chủ trên Bản đồ địa chính của phường C.

Việc tranh chấp đất đai đã được UBND hai cấp hòa giải, giải quyết nhiều lần không thành, các bên không thống nhất được phương án giải quyết.

UBND thành phố S có Công văn số số 333/UBND – TNMT ngày 08 tháng 02 năm 2021 đã xác định:

+ Xác định gia đình bà Hoàng Thị T có Hồ sơ đăng ký cấp đất và tài sản gắn liền với đất, bà T được quyền sử dụng 1445,1m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN), tại thửa đất số 157, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12 tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, gia đình bà T sử dụng ổn định, không tranh chấp;

+ Xác định bà Nguyễn Thị Thúy D có Hồ sơ đăng ký cấp đất và tài sản gắn liền với đất, bà D được quyền sử dụng 1219,7m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN), tại thửa đất số 44, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12 tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La, gia đình bà D sử dụng ổn định, không tranh chấp;

+ Xác định bà Nguyễn Thị Thanh P không có Hồ sơ đăng ký cấp đất và tài sản gắn liền với đất, không có tên trong sổ mục kê và Bản đồ địa chính số 12 tại phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La.

Công văn số 333/UBND – TNMT còn hướng dẫn bà T; bà D khởi kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất” nêu trên tại TAND thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

Gia đình bà T, bà D có Đơn lựa chọn Tòa án giải quyết “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với chị P và anh Việt A, yêu cầu chị P chấm dứt tranh chấp thửa đất nêu trên đối với gia đình bà T và bà D.

Nguyên đơn bà Hoàng Thị T5 ông Trần Văn L3 xuất trình những chứng cứ sau: 01 Trích lục bản đồ địa chính đối với diện tích đất CLN của gia đình bà T, theo đó bà T được quyền sử dụng 1445,1m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN), tại thửa đất số 157, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12 tại phường C, TP S, gia đình bà T sử dụng ổn định, không tranh chấp; 01 CV số 333/UBND-TNMT ngày 08/02/2021.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị Thúy D và ồn Trần Đình Y xuất trình những chứng cứ sau: 01 Trích lục bản đồ địa chính đối với diện tích đất CLN của gia đình bà D, theo đó bà D + ông Y tự khai phá từ trước năm 1990, có diện tích là 1219,7m² loại đất trồng cây lâu năm (CLN), tại thửa đất số 44, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12 tại phường C, TP S, gia đình bà D sử dụng ổn định, không tranh chấp; 01 CV số 333/UBND-TNMT ngày 08/02/2021.

Trong quá trình tòa án giải quyết vụ án, chị P, anh Việt A không có ý kiến, yêu cầu cũng như không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh về quyền sử dụng đất đang có tranh chấp là 400m² có chiều dài mặt đường là 20m, chiều sâu đến mép bờ suối khoảng hơn 20m là đất của vợ chồng anh chị và cho rằng diện tích thửa đất đang có tranh chấp bà Nguyễn Thị Y1 (mẹ đẻ chị P) đã bán cho ông Phương Văn V, hiện nay vợ chồng chị P anh Việt A không còn quản lý sử dụng và không liên quan đến sự việc tranh chấp giữa gia đình bà Thảo L2, bà Dự Y2. Tuy nhiên, Toà án đã trích sao tài liệu chứng cứ tại hồ sơ vụ án thụ lý số 55/2021 ngày 30/3/2021, thể hiện lời khai của các nhân chứng, người biết sự việc đều khẳng định hai gia đình bà T, bà D vẫn đang quản lý và sử dụng hai thửa đất trồng cây lâu năm có nguồn gốc, diện tích rõ ràng, có tên trong bản đồ địa chính của phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Diện tích đất mà anh chị P, Việt A san ủi và bán cho Ông V có vị trí trên đỉnh dốc đi vào bản N1, tiếp theo đến nương nhà bà Yến D1, cuối cùng mới là nương nhà bà Thảo L2, chứ không phải diện tích đất đang tranh chấp.

Ông Phương Văn V xác nhận có mua của bà Y2 400 m² đất, tuy nhiên hiện nay ông không quản lý sử dụng diện tích đang có tranh chấp nêu trên, hiện diện tích để trống. Trường hợp phát sinh tranh chấp với với bà Nguyễn Thị Y1 thì ông V sẽ khởi kiện vụ án khác, ông không liên quan đến việc tranh chấp với ông bà Thảo L2 và ông bà Yến D1.

Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Có căn cứ xác định diện tích đang tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của ông bà Thảo L2 và ông bà Yến D1 nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông bà Thảo L2 và ông bà Yến D1.

[3] Đối với chi phí tố tụng:

Ông bà Thảo L2, ông bà Dự Y2 đã chi phí tổng số tiền 12.000.000,₫ (mười hai triệu đồng), ông bà Thảo L2 đã chi phí 6.000.000,₫ (sáu triệu đồng) ông bà Yến D1 đã chi phí 6.000.000,₫ (sáu triệu đồng). Do yêu cầu khởi kiện của ông bà Thảo L2, ông bà Yến D1 được chấp nhận, nên buộc bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng nêu trên, phù hợp với quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[4] Về án phí:

Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 NQ 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 11, 105, 115, 166, 169, 189 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 95, 100 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định 43/2014 ngày 15/5/2014;

Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” của nguyên đơn bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Trần Đình Y đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm Việt A.
  2. Tạm giao cho bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L diện tích đất theo đơn khởi kiện 321,4m², loại đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 157, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12, vị trí thửa đất tại bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La nằm trong tổng diện tích đo đạc thực tế ngày 21/6/2024 là 1.306,5m², có tên trong sổ mục kê của phường C, và có tên quy chủ trên Bản đồ địa chính của phường C. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Bắc giáp đất phường Q (gia đình ông bà Vinh T6);
    • - Phía Nam giáp đất ông bà Dự Y2;
    • - Phía Đông giáp đường H;
    • - Phía Tây giáp đất ông Hồ Văn T7.
  3. Tạm giao cho bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Trần Đình Y diện tích đất là 209,6 m², loại đất trồng cây lâu năm, thửa đất số 44, thuộc tờ bản đồ địa chính số 12, vị trí thửa đất tại Bản B, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La trong tổng diện tích đo đạc thực tế ngày 21/6/2024 là 1.172,6m², có tên trong sổ mục kê của phường C, và có tên quy chủ trên Bản đồ địa chính của phường C. Có tứ cận tiếp giáp như sau:
    • - Phía Bắc giáp đất ông bà Thảo L2;
    • - Phía Nam giáp đất ông T8;
    • - Phía Đông giáp đường H;
    • - Phía Tây giáp mương và giáp đất bà T.
  4. * Bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L; bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Trần Đình Y có trách nhiệm và nghĩa vụ thực hiện các thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
  5. Ông Phương Văn V có quyền yêu cầu khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác khi có yêu cầu.
  6. Về án phí:
    • - Bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L; bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Trần Đình Y được miễn nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
    • - Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm Việt A phải chịu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch 300.000,đ (ba trăm nghìn đồng).
  7. Về chi phí tố tụng: Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh P và anh Sầm Việt A phải chịu chi phí tố tụng, phải trả cho bà Hoàng Thị T và ông Lê Văn L là 6.000.000,₫ (sáu triệu đồng); phải trả cho bà Nguyễn Thị Thúy D và ông Trần Đình Y là 6.000.000,₫ (sáu triệu đồng).

7. Về quyền kháng cáo: các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND TP Sơn La;
  • - Chi cục THADS TP Sơn La;
  • - Các đương sự
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Hoàng Thị Bích Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 28/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Thảo, Lê Văn Lý- Nguyễn Thị Thanh Phương, Sầm Việt Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger