TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 28/2023/DS-ST Ngày 15-8-2023 V/v “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Bình
Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 35/2021/TLST-DS ngày 01/3/2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2023/QĐST –DS ngày 26 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Kim K, sinh năm 1963
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đình T, sinh năm 1961
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu phố A, phường Đ, thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Trần Đình T, sinh năm: 1961
Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuân.
- Bà Trần Thị C, sinh năm 1975
Hộ khẩu thường trú: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
- Bà Bùi Thị M, sinh năm 1970
Địa chỉ: Khu phố E, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.
Ông T có mặt, ông Q có mặt, bà K, bà C, bà M vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/02/2021, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K và đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án do ông Trần Đình T trình bày:
Ngày 04/7/2007, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc Q, bà Trần Thị C có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K một phần thửa đất số 117c, tờ bản đồ số 19, với diện tích chuyển nhượng là 300m², mục đích sử dụng: CLN, toạ lạc tại thôn T, xã T, thành phố P - T (nay thuộc phường V, TP . - T). Giá trị nhận chuyển nhượng cho 300 m² là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Hợp đồng chuyển nhượng đến ngày 13/7/2007 được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T. Theo nội dung hợp đồng, hai bên chỉ thỏa thuận tổng diện tích chuyển nhượng là 300 m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00599 QSDĐ/1082/QĐ-TX/2004 do Ủy ban nhân dân thị xã P – T cấp ngày 29/10/2004 cho hộ ông Nguyễn Ngọc Q mà không ghi rõ kích thước dài, rộng, vị trí tứ cận cụ thể. Sau khi thực hiện hợp đồng, ông T, bà K đã thanh toán đầy đủ tiền và nhận đất quản lý sử dụng trồng các loại cây nông nghiệp ngắn ngày trên đất từ thời điểm 04/7/2007. Thời điểm nhận đất canh tác giữa hai bên cũng chưa đo đạc chính xác lại diện tích chuyển nhượng và cũng chưa thực hiện thủ tục sang tên tách sổ trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì ông Nguyễn Ngọc Q muốn vay vốn ngân hàng để xây nhà nên gia đình tạo điều kiện cho ông Q thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng để vay vốn. Do có mối quan hệ là anh chị em trong gia đình (bà Trần Thị C là em ruột ông Trần Đình T) nên bà K trồng trọt, canh tác nông nghiệp trên toàn bộ phần diện tích đất trống của Thửa 117c, tờ bản đồ số 19. Năm 2019, Nhà nước thu hồi đất để thực hiện hạng mục Cải tạo kênh TH5 với diện tích thu hồi 30.6 m² quy chủ bồi thường cho hộ ông Trần Đình T (theo quyết định thu hồi số 1472/QĐ-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố P – T). Tại thời điểm nhận tiền bồi thường ông Nguyễn Ngọc Q không có ý kiến phản đối nào khác. Khi được biết ông Nguyễn Ngọc Q đã thanh toán xong các khoản vay vốn của ngân hàng và đã được nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông bà muốn thực hiện thủ tục tách sổ thì ông Nguyễn Ngọc Q gây khó khăn.
Nay, bà Huỳnh Thị Kim K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 04/7/2007 giữa ông Nguyễn Ngọc Q, bà Trần Thị C với ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K với diện tích chuyển nhượng sau khi đã trừ đi diện tích đất thu hồi còn lại diện tích là 269.4 m².
Nguyên đơn đồng ý chịu toàn bộ chi phí tố tụng bao gồm chi phí đo đạc, định giá tài sản, xem xét thẩm định tại chỗ và án phí dân sự sơ thẩm.
Theo biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q trình bày:
Ông Nguyễn Ngọc Q xác nhận năm 2007 có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất một phần thửa đất 117c, tờ bản đồ 19 với diện tích chuyển nhượng 300 m² cho ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K. Hợp đồng chuyển nhượng được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T như ông T, bà K trình bày. Trong hợp đồng chuyển nhượng chỉ ghi tổng diện tích 300 m² mà không ghi vị trí tứ cận hay chiều rộng, chiều dài cụ thể bao nhiêu. Sau khi chuyển nhượng, ông Q có bàn giao đất cho vợ chồng ông T, bà K để canh tác trồng trọt trên đất. Do có mối quan hệ anh em trong gia đình nên giữa hai bên không tiến hành đo đạc cụ thể mà chỉ ước chừng và giao đất canh tác, khi nào làm thủ tục tách giấy chứng nhận sẽ đo đạc lại sau. Nay bà Huỳnh Thị Kim K yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông cũng đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, ông đề nghị tính cả phần diện tích 15.4m² nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Bùi Thị M vì thực tế diện tích 15.4 m² này ông đang canh tác sử dụng nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông. Ông không hiểu tại sao phần diện tích này lại nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Bùi Thị M.
Theo các biên bản lấy lời khai ngày 05 tháng 01 năm 2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị C trình bày:
Bà là vợ cũ của ông Nguyễn Ngọc Q, hai người đã ly hôn từ năm 2019. Bà C thừa nhận vào năm 2007, khi bà và ông Q còn là vợ chồng thì hai người có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Huỳnh Thị Kim K, ông Trần Đình T với diện tích chuyển nhượng 300 m², hợp đồng có được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T. Nay bà Huỳnh Thị Kim K yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/7/2007 giữa các bên. Bà Trần Thị C đồng ý công nhận phần diện tích sau khi trừ đi diện tích đất đã thu hồi để làm kênh mương thì sẽ tính đủ diện tích đất cho bà K, ông T theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Ngọc Q.
Do công việc bận nên bà Trần Thị C đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Theo các biên bản lấy lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị M trình bày:
Thửa đất 116, tờ bản đồ số 02, phường Đ (nay thuộc phường V) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành BU125936 do Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp cho bà Bùi Thị M ngày 05/9/2014. Do hiện tại bà chưa có điều kiện canh tác sử dụng nên cũng không coi ngó thường xuyên về ranh giới. Đối với phần diện tích đất 15.4 m² theo trích lục số 1246/VPĐKĐĐNT CNPRTC do Văn phòng Đ chi nhánh P - T cấp ngày 04/4/2003 thì bà không đồng ý công nhận cho ông Nguyễn Ngọc Q vì phần đất này đã được Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà. Bà Bùi Thị M không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp trong vụ án này và bà cũng không có yêu cầu nào khác.
Do công việc bận nên bà Bùi Thị M đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 697, Điều 698, Điều 699, 700, 701, 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 106, Điều 113, Điều 127 Luật đất đai năm 2003. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/7/2007 giữa ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K với ông Nguyễn Ngọc Q, bà Trần Thị C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Lời trình bày và kết quả tranh tụng của đương sự Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án; Nội dung trình bày và kết quả tranh luận của đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại khu phố A, phường Đ, TP . - T. Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Về việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị C, bà Bùi Thị M có đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào ngày 04/7/2007, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về nguồn gốc đất chuyển nhượng: 300 m², đất cây lâu năm thuộc một phần thửa đất số 117c, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là thửa đất số 672, tờ bản đồ địa chính số 09, diện tích 269.4 m² thuộc phường V, thành phố P - T) có nguồn gốc của hộ ông Nguyễn Ngọc Q được Ủy ban nhân dân thị xã P – T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S605551, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận số 00599/QSDĐ/1082/QĐ-TX/2004 ngày 29 tháng 10 năm 2004.
Xét về hình thức và nội dung giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc Q, bà Trần Thị C với ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K:
Ngày 04/7/2007, ông Nguyễn Ngọc Q, bà Trần Thị C có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với nội dung: chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất thuộc Thửa đất số 117c, tờ bản đồ số 19, địa chỉ thửa đất: thôn T, xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận, diện tích 300 m²; giá chuyển nhượng 15.000.000 đồng; đất đã được Ủy ban nhân dân thành phố P – Tháp chàm cấp giấy chứng nhận quyền sử đất cho bên chuyển nhượng. Ngày 13/7/2007 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P - T.
Xét thấy, người tham gia giao dịch chuyển nhượng có năng lực hành vi dân sự; mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện. Nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/7/2007 thể hiện đầy đủ: đối tượng chuyển nhượng, giá tiền, phương thức thanh toán; việc giao và đăng ký quyền sử dụng đất; trách nhiệm nộp thuế, lệ phí, phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng. Như vậy, giao dịch chuyển quyền sử dụng đất ngày 04/7/2007 phù hợp với quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự năm 2005 và phù hợp với quy định của pháp luật tại thời điểm chuyển nhượng.
Về hình thức hợp đồng: Theo quy định tại Điều 122 Bộ luật Dân sự 2005 “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định. Căn cứ theo quy định tại Điều 127 Luật đất đai năm 2003 quy định “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất”.. Như vậy, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Q, bà C với ông T, bà K đã được chứng thực tại Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai là phù hợp.
Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, các bên đều thừa nhận đã giao đất, nhận tiền và bên nhận chuyển nhượng đã sử dụng ổn định từ khi nhận chuyển nhượng ngày 04/7/2007 đến nay nhưng chưa làm thủ tục đăng ký kê khai để tách sổ, nên đây là các tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Năm 2019, khi nhà nước thu hồi đất để thực hiện hạng mục Cải tạo kênh TH5 thuộc Dự án Môi trường bền vững các T – Tiểu dự án thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K là người trực tiếp sử dụng đất được nhận tiền bồi thường theo quy định và không xảy ra tranh chấp. Điều này đã được Ủy ban nhân dân phường Đ xác nhận tại Công văn số 463/CV-UBND ngày 07 tháng 10 năm 2021 và các bên thừa nhận. Ông Nguyễn Ngọc Q, bà Trần Thị C, ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K đều đồng ý tiếp tục công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/7/2007.
Do vậy, Căn cứ Điều 122, 124, 697, 698, 699,700, 701, 702 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 113, 127 của Luật Đất đai năm 2003 Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc Q, bà Trần Thị C với ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K về việc chuyển nhượng 300m², đất cây lâu năm, thuộc một phần thửa đất số 117c, tờ bản đồ số 19, toạ lạc tại xã T, thành phố P - T (nay là thửa 672, tờ bản đồ số 09 thuộc phường V, thành phố P - T) có hiệu lực pháp luật.
[2.2] Ông Nguyễn Ngọc Q yêu cầu Tòa án công nhận cả phần diện tích 15,4 m² đã cấp giấy chứng nhận cho bà Bùi Thị M vì thực tế ông Q đang sử dụng diện tích đất này. Tuy nhiên, ông Nguyễn Ngọc Q không có đơn và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Bùi Thị M. Bà Huỳnh Thị Kim K, ông Trần Đình T chỉ đồng ý công nhận diện tích đất nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông Nguyễn Ngọc Q.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Nội dung hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 04/7/2007 giữa hai bên thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số S605551, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số 000599 do Ủy ban nhân dân thị xã P – T cấp cho ông Nguyễn Ngọc Q; Phần diện tích 15.4m² theo trích lục 1246/VPĐKĐĐNT-CNPRTC ngày 04 tháng 4 năm 2023 thể hiện thuộc Giấy chứng nhận số phát hành BU125936 do Ủy ban nhân dân thành phố P – T cấp cho bà Bùi Thị M ngày 05/9/2014. Bà M không đồng ý công nhận cho ông Nguyễn Ngọc Q và cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét. Do đó, không có cơ sở chấp nhận theo yêu cầu của ông Nguyễn Ngọc Q về việc công nhận 15,4 m² đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Bùi Thị M cho ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K.
Mặc dù ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K đã thực tế quản lý sử dụng phần đất nhận chuyển nhượng nhưng khi tiến hành giao đất từ năm 2007 đến khi có tranh chấp xảy ra các bên chưa thực hiện việc đo đạc lại diện tích, các bên tranh chấp đều thừa nhận khi nào thực hiện thủ tục đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà K sẽ tiến hành đo đạc lại chính xác. Vì vậy, Hội đồng xét xử xác định diện tích đất còn lại theo thỏa thuận trong hợp đồng chuyển nhượng ngày 04/7/2007 giữa ông Q, bà C và ông T, bà K là 269,4 m² (sau khi đã trừ đi diện tích đất thu hồi 30,6 m² theo Quyết định số 1472/QĐ-UBND ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố P – T) theo trích lục 1246/VPĐKĐĐNT-CNPRTC ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Văn phòng Đ chi nhánh thành phố P - T.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với những nhận định nêu trên nên được chấp nhận.
[4] Về chi phí tố tụng: Chi phí đo đạc, trích lục thửa đất, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 4.100.000 đồng. Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí này và đã nộp đủ.
[5] Về án phí và quyền kháng cáo:
Vụ án thuộc trường hợp tranh chấp dân sự không có giá ngạch. Nguyên đơn Huỳnh Thị Kim K tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng ) án phí dân sự sơ thẩm thay cho bị đơn Nguyễn Ngọc Q nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0023329 ngày 26/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T. Bà Huỳnh Thị Kim K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 156; Điều 157; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Các Điều 122, 124, 697, 698, 699, 700, 701, 702 của Bộ Luật dân sự năm 2005.
Các Điều 113, 127 của Luật Đất đai năm 2003.
Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14gày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K đối với bị đơn ông Nguyễn Ngọc Q.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Ngọc Q, bà Trần Thị C với ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K được Ủy ban nhân dân xã T, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận chứng thực ngày 13/7/2007.
Ông Trần Đình T, bà Huỳnh Thị Kim K được quyền sử dụng thửa đất số 672 (đã chỉnh lý), tờ bản đồ địa chính số I, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận có diện tích 269.4 m². Thửa đất có vị trí tứ cận: phía Bắc giáp Thửa 669; phía Nam giáp đường đi; phía Đông giáp Thửa 673; phía Tây giáp Thửa 671.
(Có Trích lục bản đồ địa chính Hồ sơ trích lục số 1246/VPĐKĐĐNT-CNPRTC ngày 04/4/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh P - T kèm theo).
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào các quy định của Luật đất đai và bản án của Tòa án; đăng ký và chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật phù hợp với kết quả giải quyết của bản án này.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản là 4.100.000 đồng và đã nộp đủ chi phí.
- Về án phí:
Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim K tự nguyện chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm thay cho bị đơn Nguyễn Ngọc Q nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0023329 ngày 26/02/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T. Bà Huỳnh Thị Kim K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 15-8-2023). Đương sự vắng mặt - quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nga |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Minh Trâm Trần Văn Bình | Nguyễn Thị Nga |
Bản án số 28/2023/DS-ST ngày 15/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 28/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị Kim Kế đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Nguyễn Ngọc Quý