|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 15 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thế Văn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Tám
- Ông Lê Văn Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thi là Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh ngày 28/3/1990, tại huyện P, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Đạo Phật giáo H; trình độ học vấn: lớp 7/12; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 và bà Huỳnh thị T1, sinh năm 1965; có vợ Võ Ngọc M, sinh năm 1995 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo B bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/4/2024 cho đến nay, có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo B: Ông Quách Thanh P là Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh A, có mặt.
- Bị hại: Ông Bùi Hữu L, sinh ngày 1987 nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.
- Người có quyền lợi liên quan: Bà Huỳnh Thị T2, sinh năm 1965 nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Bùi Văn R, vắng mặt;
- Ông Nguyễn Văn C, có mặt;
- Bà Nguyễn Thị S, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 08/02/2024, Nguyễn Văn B, sinh năm 1990, ngụ ấp P, xã P, huyện P đi bộ đến nhà Bùi Hữu L, sinh năm 1987 (cách nhà B khoảng 100 mét) để đòi tiền, do L còn nợ trước đó nên dẫn đến cự cãi. L vào bếp lấy 01 cây dao tầm bức (dao bằng kim loại) cầm trên tay phải chạy ra đứng cách Bạo khoảng 03m, rồi ném cây dao về hướng chân của B nhưng không trúng (ném cách chân của Bạo khoảng 01m), mục đích ném dọa cho B về nhà. Lúc này, B tháo dây thắt lưng (màu đen, khóa bằng kim loại màu vàng đồng, phần dây da dài 1,12m, rộng bản 3,7cm, khóa gài bằng kim loại màu vàng đồng có đề dòng chữ LEVIS) trên người rồi gấp đôi lại và cầm đoạn giữa xông vào đánh nhau với L. L dùng tay phải đánh trúng 02 cái vào mặt B. B dùng dây thắt lưng đánh 02 cái, làm đầu kim loại của dây nịch trúng vào má trái và vùng đính thái dương trái của L gây thương tích. Liền đó, ông Bùi Văn R, sinh năm 1965 (cha ruột L) vào can ngăn nên B đi ra đường đất trước nhà L và tiếp tục đứng chửi một lúc rồi đi về, còn L được ông R lau vết thương. Lúc này, Nguyễn Văn C, sinh năm 1984 và Nguyễn Thị S, sinh năm 1984 (anh ruột và chị dâu của B) biết sự việc B đánh L gây thương tích nên đến thăm hỏi và lau vết thương cho L.
Khoảng 20 phút sau, tại nhà anh Nguyễn Văn C, B thấy trên kệ gỗ có 01 cây kéo bằng kim loại màu đen (dài 23cm, tay cầm hình bán nguyệt được bọc vỏ nhựa, chiều dài tay cầm 9,5cm, lưỡi kéo dài 13,5cm, bề rộng lưỡi lớn nhất 03cm, nhỏ nhất 0,5cm) nên lấy cầm trên tay phải rồi chạy lại nhà L để đánh nhau. Đến nơi, L và B tiếp tục cự cãi, B xông vào nhà L thì được anh C và ông R đứng giữa can ngăn. Lúc này, B cầm kéo trên tay phải đâm 02 cái hướng từ trên xuống làm mũi kéo trúng vào vai trái và bả vai trái L gây thương tích. Sau đó, C can ngăn và đưa B về nhà, còn L được đưa đến Trung tâm Y tế huyện P cấp cứu và điều trị đến ngày 11/02/2024 xuất viện.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số 160/24/KLTTCT-TTPY ngày 08/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A, kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm cơ thể của Bùi Hữu L do tất cả các thương tích gây nên là 05 %.
Cáo trạng số 30/CT-VKSPT ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn B như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, đề nghị:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án là 01 cây kéo và 01 dây thắt lưng.
Người bào chữa cho bị cáo phát biểu tranh luận: Thống nhất tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Bị cáo B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự, đề nghị áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo B mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viên kiểm sát và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo B thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại L thừa nhận có lỗi trước, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Xét thấy những người làm chứng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra và lời khai của những người này phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong giai đoạn điều tra nên sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng trong vụ án.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn B phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản khám nghiệm hiện trường lập ngày 09/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Kết luận giám định pháp y về thương tích số 160/24/KLTTCT-TTPY ngày 08/3/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh A và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn B đã có hành vi dùng dây thắt lưng có đầu bằng kim loại (là hung khí nguy hiểm) đánh Bùi Hữu L gây thương tích sưng nề vùng đính thái dương trái, sẹo má trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 03%. Sau khi được can ngăn về nhà, B quay trở lại tiếp tục có hành vi dùng cây kéo bằng kim loại (là hung khí nguy hiểm) đâm L gây thương tích vai trái, mặt ngoài 1/3 cánh tay trái, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%, tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bùi Hữu L là 05%. Bị cáo Nguyễn Văn B thực hiện hành vi phạm tội 02 lần, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố bị cáo B về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[2.2] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo như sau:
Bị cáo B là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, biết rõ việc gây thương tích cho người khác sẽ là tội phạm. Bị cáo B và bị hại L có mâu thuẫn nhau về việc L nợ tiền B không trả, B đến nhà L đòi tiền, cả hai đều có uống rượu nên dẫn đến cự cải, rồi đánh nhau tại nhà L, L dùng dao ném về phía Bạo hù dọa, dùng tay đánh vào mặt B nên B dùng dây thắt lưng có đầu bằng kim loại đánh gây thương tích cho L. Sau khi được can ngăn, bị cáo B quay trở lại nhà L, cả hai tiếp tục thách thức đánh nhau, khi cả hai giáp mặt thì B dùng kéo gây thương tích cho L. Hành vi phạm tội của bị cáo B là nghiêm trọng, vi phạm quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự có mức hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù. Hành vi của bị cáo B là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm mất an ninh trật tự địa phương, do đó cần có hình phạt tương xứng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
Bị cáo B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo B thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại; bị cáo gây thương tích cho bị hại khi bị hại nợ tiền nhưng không thừa nhận, còn thách thức, dùng dao ném bị cáo, dùng tay đánh 02 cái vào mặt bị cáo nên bị cáo mới tháo dây thắt lưng đánh lại bị hại gây thương tích, phạm tội trong trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo B có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54, Điều 65 quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo.
[3] Các biện pháp tư pháp:
[3.1] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại L và bị cáo B đã thỏa thuận bồi thường xong nên không xem xét giải quyết.
[3.2] Xử lý vật chứng:
Vật chứng vụ án là 01 cây kéo bằng kim loại dài 23cm, 01 dây thắt lưng da màu đen, khóa bằng kim loại màu vàng thu giữ của bị cáo B không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[4] Về án phí:
Bị cáo B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”,
1. Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 134, điểm b, e, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng được hưởng án treo. Ấn định thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 15/7/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn B thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 để giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù theo bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 cây kéo bằng kim loại dài 23cm, tay cầm hình bán nguyệt được bọc vỏ nhựa, chiều dài tay cầm 9,5cm, phần lưỡi kéo dài 13,5cm. Bề rộng phần lưỡi lớn nhất 03cm, bề rộng nơi nhỏ nhất 0,5cm; 01 dây thắt lưng da màu đen, khóa bằng kim loại màu vàng đồng, phần dây da dài 1,12m, rộng bản 3,7cm, khóa gài bằng kim loại màu vàng đồng có đề dòng chữ LEVIS, tất cả đã qua sử dụng.
(Các vật chứng, tài sản nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/7/2024).
3. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 136, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Bị cáo Nguyễn Văn B và đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thế Văn |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn B phạm tội cố ý gây thương tích
