Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 28/2024/ DS-ST

Ngày: 15-5-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Vượng

Ông Nguyễn Văn Tư

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang

Đại diện Viện kiểm sát thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 162/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Nguyễn Văn M - sinh năm: 1965. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (có mặt)
  2. Bị đơn: Chị Thân Thị M1, sinh năm: 1980
    Anh Nguyễn Văn V, sinh năm: 1977
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt)
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị K, sinh năm: 1971.
    Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
  4. Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm: 1961. Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ghi ngày 27/9/2023, bản tự khai và các lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, nguyên đơn Nguyễn Văn M trình bày: Ông là người cùng thôn với vợ chồng chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V. Tháng 02 năm 2019, vợ chồng chị M1, anh V có vay của vợ chồng ông số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) để đầu tư kinh doanh sơn, vật liệu xây dựng. Khi cho vay tiền hai bên có thỏa thuận lãi, khi nào ông cần tiền thì báo trước để vợ chồng anh, chị thu xếp trả. Do là người cùng thôn nên ông tin tưởng và không yêu cầu vợ chồng anh V, chị M1 viết giấy tờ gì. Sau khi vay tiền, anh V, chị M1 không trả tiền lãi cho ông. Đến năm 2021, do cần tiền giải quyết công việc gia đình nên ông đòi tiền thì vợ chồng anh V khất nợ. Sau đó ông nhiều lần đòi tiền thì vợ chồng chị M1, anh V đều đưa ra lý do khất và không trả tiền cho ông. Đến ngày 17/10/2022 ông yêu cầu chị M1 viết giấy khất nợ để làm căn cứ, chị M1 khất ông 40 ngày sau sẽ trả, nhưng vợ chồng chị M1 cũng không trả. Ngày 23/12/2022, chị M1, anh V tiếp tục khất nợ, hẹn tháng 2 năm 2023 trả, nhưng không trả. Ngày 01/8/2023, ông đến đòi tiền thì chị M1 tiếp tục khất nợ và viết giấy khất nợ hẹn sau một tháng tức là ngày 01/9/2023 sẽ trả tiền cho ông, nhưng nay đã quá hạn chị M1 không trả tiền. Vì vậy, ông làm đơn yêu cầu Tòa án xem xét buộc vợ chồng anh Nguyễn Văn V, chị Thân Thị M1 phải thanh toán trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M, Trịnh Thị K1 số tiền gốc vay 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và buộc anh V, chị M1 phải trả tiền lãi trên số tiền gốc vay theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 01/3/2019 cho đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ, tạm tính đến ngày 26/9/2023 là 22.847.222 đồng. Tổng tiền gốc và lãi tạm tính là 72.847.222 đồng.

Trịnh Thị K tại bản tự khai ngày 08/12/2023 trình bày: Vợ chồng bà có quan hệ hàng xóm với vợ chồng anh Nguyễn Văn V, chị Thân Thị M1. Tháng 02 năm 2019 vợ chồng anh V có vay của vợ chồng bà số tiền 50.000.000 đồng, mục đích vay để đầu tư kinh doanh sơn. Khi vay hai bên có viết giấy vay và hẹn khi nào vợ chồng bà cần tiền thì báo trước để vợ chồng anh V thu xếp trả tiền cho vợ chồng bà. Hai bên có thỏa thuận lãi bằng miệng là 600.000 đồng/tháng. Giấy vay tiền do bà sửa chữa, cải tạo nhà nên làm thất lạc. Từ khi vay đến nay vợ chồng anh V không trả cho vợ chồng bà số tiền nào. Đến năm 2021, do cần tiền nên vợ chồng bà có đòi vợ chồng anh V trả số tiền vay nhưng vợ chồng anh V, chị M1 không trả, cứ khất hết lần này đến lần khác. Đến ngày 17/10/2022 chị M1 có viết giấy khất nợ, hẹn 40 ngày sau trả; ngày 23/12/2022, chị M1, anh V tiếp tục khất nợ, hẹn sang tháng 02 năm 2023 âm lịch sẽ trả vợ chồng bà tiền, nhưng sau đó không trả. Ngày 01/8/2023 chị M1 tiếp tục khất nợ hẹn sau một tháng, tức ngày 01/9/2023 sẽ trả tiền, nhưng quá hạn cũng không trả. Nay bà đề nghị Tòa án xem xét buộc chị M1, anh V phải trả vợ chồng bà số tiền gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01/3/2019 đế khi trả hết nợ với mức lãi suất 10%/năm, tạm tính đến ngày 26/9/2023 là 22.847.222 đồng.

Bị đơn Thân Thị Mến, Nguyễn Văn V sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã gửi thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng, chị M1, anh V không đến làm việc, kết quả xác minh tại địa phương xác định vợ chồng anh Nguyễn Văn V, chị Thân Thị M1 đều có đăng ký hộ khẩu cư trú tại thôn Đ, xã Đ, thành phố B. Hiện có chị M1, anh V đi làm ăn xa, thi thoảng về địa phương. Do không tống đạt được trực tiếp các văn bản tố tụng, Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang đã xác minh tại cục X đối với vợ chồng anh V, chị M1. Tại công văn số 6028/QLXNC –P3 ngày 26/3/2024 của Cục Q bộ X xác định Nguyễn Văn V, Thân Thị M1 không có thông tin cấp hộ chiếu, xuất nhập cảnh tại Cục Q.

Tại phiên tòa, ông Nguyễn Văn M trình bày nội dung tranh chấp, xác định chị M1, anh V cố tình trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, do đó yêu cầu chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V trả số tiền gốc 50.000.000 đồng. Về tiền lãi, trước đây ông yêu cầu chị M1, anh V trả lãi suất theo mức 10%/năm trên số nợ gốc, thời gian tính lãi từ ngày 01/3/2022 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ. Nay ông M xác định do không có giấy vay ban đầu, nên tính từ thời hạn hẹn trả lần đầu chị M1 hẹn theo giấy khất nợ ghi ngày 17/10/2022, ông yêu cầu tính lãi từ thời điểm ngày 28/11/2022 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ. Ngoài ra, ông trình bày các lần chị M1, anh V khất nợ trên đều có người làm chứng, lần cuối cùng ông đi đòi tiền chị M1, anh V thì có bà Nguyễn Thị T làm chứng sự việc và ký nhận vào giấy này, do đó ông đề nghị HĐXX xem xét đưa bà T vào làm chứng.

Nguyễn Thị T trình bày: Bà là người cùng làng với vợ chồng ông M, vợ chồng chị M1, từ trước đến nay không có mâu thuẫn gì với hai bên. Do bà biết vợ chồng chị M1 làm quán bán hàng tại xã T, do đó ngày 01/8/2023, bà là người đã đưa ông M đến quán hàng của vợ chồng chị M1 đang làm ăn để ông M đòi tiền. Tại đó bà đã được làm chứng sự việc ông M đòi tiền chị M1, anh V vay, lúc đó chị M1 là người khất nợ, là người viết giấy tờ khất nợ, còn anh V ở đó đã có những lời lẽ hằn học, thách thức ông M sau đó thì bỏ đi, không ký nhận gì. Chữ ký, chữ viết “Tiệp. Nguyễn Thị T” dưới mục người làm chứng trong giấy viết ngày 01/8/2023 là của bà. Bà cam đoan lời khai của mình là đúng sự thật, xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời khai của mình.

Trịnh Thị K xin vắng mặt. Anh Nguyễn Văn V, chị Thân Thị M1 vắng mặt trong quá trình tố tụng và tại các phiên tòa ngày 25/4/2024 và ngày 15/5/2024.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bà K đã có đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do nên HĐXX là đúng quy định.

Về nội dung tranh chấp: Trên cơ sở lời khai của các đương sự, chứng cứ thu thập được, có căn cứ xác định ông Nguyễn Văn M, bà Trịnh Thị K cho vợ chồng anh Nguyễn Văn V, chị Thân Thị M1 vay số tiền 50.000.000 đồng từ tháng 2 năm 2019, đến nay chị M1, anh V chưa thanh toán.

Đề nghị HĐXX áp dụng các điều: 26, điều 35; điều 39; điều 147; điều 227; điều 271; điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 353; Điều 357; điều 463; điều 466; khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự; Điều 27; 28; 33, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về miễn, giảm, mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M

Buộc chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V phải cùng chịu trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn M, bà Trịnh Thị K số tiền vay gốc 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

Về tiền lãi, do nguyên đơn không xuất trình được giấy vay tiền ban đầu, chỉ xuất trình các giấy khất nợ ghi ngày 17/10/2022, ngày 23/12/2022 và ngày 01/8/2023. Căn cứ các giấy trên xác định ngày 17/10/2022 chị Thân Thị M1 đã xác nhận khoản nợ 50.000.000 đồng của vợ chồng chị với ông M và hẹn ngày thanh toán là 40 ngày sau, tức là từ ngày 28 tháng 11 năm 2022 thì anh V, chị M1 phải trả nợ số tiền vay từ năm 2019. Do trong giấy khất nợ trên không thể hiện nội dung các bên thỏa thuận về tiền lãi, nguyên đơn cũng không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc thỏa thuận lãi, do đó, tính đến ngày 27/11/2022 thì đề nghị HĐXX không tính lãi, từ ngày 28/11/2022 thì chị M1, anh V phải chịu lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 điều 357, khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự. Mức lãi suất tính bằng 10%/năm/số nợ gốc x số ngày chưa thanh toán. Cụ thể từ ngày 28/11/2022 đến ngày xét xử là 01 năm 5 tháng 17 ngày, tính lãi bằng 7.319.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi chị M1, anh V phải trả ông M, bà K là 57.319.000 đồng (Năm mươi bẩy triệu ba trăm mười chín nghìn đồng). Chị M1, anh V tiếp tục phải trả lãi cho đến khi thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ theo quy định tại điều 357, khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự.

Về án phí, bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn M cùng các tài liệu, chứng cứ đã giao nộp cho Tòa án hợp lệ, đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về hình thức và nội dung đơn khởi kiện. Tại phiên tòa ông M đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ gốc là các giấy khất nợ, HĐXX xem xét theo quy định.

[2]. Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành trình tự thủ tục tố tụng giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, đã thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho các đương sự. Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, vắng mặt tại phiên tòa. HĐXX xét thấy quá trình tiến hành tố tụng đã thực hiện các hoạt động xác minh, niêm yết văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa ngày 25/4/2024 và ngày 15/5/2024, HĐXX căn cứ điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vụ án.

[3].Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét đơn khởi kiện và lời khai của các đương sự, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, HĐXX xác định đây là “tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”, do bị đơn cư trú tại thành phố B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 điều 26; Khoản 1 điều 35; Khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[4].Về thời hiệu khởi kiện: Căn cứ xác giấy khất nợ do nguyên đơn cung cấp thì tháng 2 năm 2019 bị đơn vay tiền của nguyên đơn, lần cuối cùng ngày 01/8/2023 bị đơn vẫn khất hẹn trả nợ vào ngày 01/9/2023, ngày 28/9/2023 nguyên đơn gửi đơn khởi kiện đến Toà án, do đó HĐXX căn cứ Điều 429 của Bộ luật dân sự, xác định thời hiệu khởi kiện để giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản vẫn còn theo quy định.

[5]. Về nội dung tranh chấp:

Về tiền vay gốc: Lời khai của nguyên đơn Nguyễn Văn M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Thị K đều xác định tháng 2 năm 2019 chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V đã vay của ông, bà số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, ngoài ra ông M đã xuất trình giấy khất nợ ghi ngày 17/10/2022, giấy khất nợ ghi ngày 23/12/2022; Giấy khất nợ ghi ngày 01/8/2023 do chị Thân Thị M1 viết.

Từ khi thụ lý vụ án đến nay chị M1, anh V không có bất cứ văn bản phản hồi nào về nội dung yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M, bị đơn đã không thực hiện các quyền, nghĩa vụ chứng minh của mình theo quy định tại điều 70, 72, 91 của Bộ luật tố tụng dân sự. HĐXX căn cứ lời khai của ông Nguyễn Văn M, bà Trịnh Thị K, tài liệu, chứng cứ nguyên đơn đã giao nộp, lời khai của bà Nguyễn Thị T là người làm chứng thì có cơ sở xác định tháng 2 năm 2019 chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V đã vay của vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Trịnh Thị K số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng và đến ngày 01/8/2023 chưa thanh toán. Thời hạn chị M1 hẹn ngày 01/9/2023 cũng không trả, do đó HĐXX xác định việc ông M khởi kiện yêu cầu chị M1, anh V trả số tiền vay gốc 50.000.000 đồng là có căn cứ, được HĐXX chấp nhận.

Về tiền lãi: Theo đơn khởi kiện ông M yêu cầu chị M1, anh V phải trả tiền lãi theo mức 10%/năm/số tiền gốc từ ngày 01/3/2019 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông M yêu cầu tính lãi từ ngày 28/11/2022. HĐXX thấy, do nguyên đơn không xuất trình được giấy vay tiền ban đầu, chỉ xuất trình các giấy khất nợ ghi ngày 17/10/2022, ngày 23/12/2022 và ngày 01/8/2023. Căn cứ tài liệu, giấy khất nợ ông M giao nộp xác định, ngày 17/10/2022 chị Thân Thị M1 xác nhận có khoản nợ 50.000.000 đồng của vợ chồng chị với ông M và hẹn 40 ngày sau trả số tiền trên, tức là ngày 27 tháng 11 năm 2022 thì anh V, chị M1 phải trả số tiền vay từ năm 2019 cho ông M, bà K. Do trong giấy khất nợ trên không thể hiện nội dung các bên thỏa thuận về tiền lãi, nguyên đơn cũng không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh việc thỏa thuận lãi, do đó, từ tháng 2 năm 2019 tính đến ngày 27/11/2022 thì HĐXX không tính lãi, từ ngày 28/11/2022 do chị M1, anh V không trả tiền vay như hẹn nên phải chịu lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 2 điều 357, khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự. Mức lãi suất tính bằng 10%/năm/số nợ gốc x số ngày chưa thanh toán. Cụ thể từ ngày 28/11/2022 đến ngày xét xử 15/5/2024 là 01 năm 5 tháng 17 ngày, tính lãi bằng 7.319.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V phải trả ông Nguyễn Văn M, bà Trịnh Thị K là 57.319.000 đồng.

Kể từ ngày 16/5/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ, chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

[6].Về án phí: Căn cứ điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng khoản 3 Điều 26; Khoản 1 điều 35; Khoản 1 điều 39; Điều 147; Điều 184; điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 353; Điều 357; điều 429; điều 463; điều 465; điều 466; Khoản 2 Điều 468; điều 470 Bộ luật dân sự 2015; Điều 27; 28; 33, 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về miến, giảm, mức thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn M.

Buộc vợ chồng anh Nguyễn Văn V, chị Thân Thị M1 phải trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn M, bà Trịnh Thị K số tiền gốc 50.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày xét xử 7.319.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi chị M1, anh V phải trả là 57.319.000 đồng (Năm mươi bảy triệu ba trăm mười chín nghìn đồng).

Kể từ ngày 16/5/2024 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ, chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015

Án phí: Chị Thân Thị M1, anh Nguyễn Văn V phải chịu 2.865.000 đồng (hai triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả ông Nguyễn Văn M số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.820.000 đồng theo biên lai thu số 0000136 ngày 13/10/2023 của Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trạng hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -VKSND TP Bắc Giang;
  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 28/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông M khởi kiện yêu cầu chị M trả số tiền vay. Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger