Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 15-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Phú Hữu.
  2. Ông Nguyễn Hồng Thơ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phan Minh Trí là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2024/HSST-QĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Tấn T, sinh năm 1977, tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ A, Ấp C, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Không; Con ông Huỳnh Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị Cà U (chết); Chưa có vợ, con; Tiền sự: Không;

Tiền án: 02 tiền án.

Ngày 07/5/2020, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và tội “Che giấu tội phạm” tại Bản án số 89/2020/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/6/2022.

Ngày 26/5/2010, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 108/2010/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2015.

Nhân thân:

- Ngày 11/4/1997, Huỳnh Tấn T bị Tòa án nhân dân thị xã Cao Lãnh xử phạt 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 10/HSST.

- Ngày 20/7/2018, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 18 tháng, theo Quyết định số 350/QĐ-TA, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Ngày 18/8/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc, với thời hạn 13 tháng theo Quyết định số 12/QĐ-TA.

Bắt tạm giam ngày 17/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Nguyễn Thanh H, sinh năm 1997 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
  2. Lê Thị Gái C, sinh năm 1994 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ 02, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Lê Mộng T2, sinh năm 1984 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ A, ấp N, xã B, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
  2. Nguyễn Châu T3, sinh năm 1991 (vắng mặt).
    Nơi cư trú: Tổ 02, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Người làm chứng:

Đặng Văn T4, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ A, Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 00 phút ngày 26/7/2023, T một mình điều khiển xe mô tô SUZUKI RAIDER màu đỏ xám trắng, biển số 66N1-238.40 đi từ nhà ở xã M, thành phố C đến trung tâm thành phố C tìm tài sản trộm cắp. Khi điều khiển xe đến đoạn Quốc lộ C thuộc Ấp A, xã M, thành phố C thì thấy Đặng Văn T4 (là bạn quen biết nhau từ trước) đang ngồi một mình ở cạnh trụ điện gần Bệnh viện Tâm Trí nên T rủ T4 lên xe đi xuống trung tâm thành phố C chơi, T4 đồng ý.

T kêu T4 điều khiển xe chở T chạy qua các đoạn đường N, N thuộc phường H, thành phố C. Khi đến nhà trọ B thuộc Tổ A, khóm T, phường H, thành phố C, T kêu T4 dừng xe cách cửa nhà trọ khoảng 05 mét đợi, để T vào nhà trọ lấy đồ. Sau đó, T đi bộ vào dãy trọ đến nơi đậu xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, biển số 67L1-702.17 của anh Nguyễn Thanh H bên hông phòng trọ số 14 nhà trọ B, không có người trông coi. T lấy trong túi quần 01 đoạn sắt lục giác màu trắng, dài khoảng 04cm, 01 đầu mài dẹp và nhọn, 01 chìa khóa mở bu lông loại chìa 8 kẹp để bẻ khóa chiếc xe mô tô nêu trên. Sau khi bẻ khóa xong, T dẫn lùi chiếc xe vừa trộm được ra đường N rồi điều khiển xe chạy trước, T4 điều khiển xe của T chạy theo sau và nghĩ là xe của T gửi ở đây đến lấy chứ không biết T lấy trộm xe. Trên đường tẩu thoát, T đã vứt bỏ các dụng cụ dùng bẻ khóa xe trên đường đi mất không thu hồi được. Sau khi cả hai về nhà, T gọi điện thoại cho Đặng Văn T4 để nhờ đem xe biển số 67L1-702.17 đi sửa giùm nhưng không nói là sửa gì, T4 kêu Lê Mộng T2 lên nhà T để lấy xe của T đi sửa do xe bị hư.

Lê Mộng T2 nhờ L (chưa rõ họ tên, địa chỉ) chở đến nhà T để lấy xe, nhưng do chưa tìm được chỗ sửa xe nên Thơ đem xe về nhà trọ không tên thuộc Ấp A, xã M, thành phố C. Đến 21 giờ cùng ngày khi phát hiện xe bị mất trộm, anh H trình báo Công an phường H, thành phố C. Qua xác minh, Công an đã mời Huỳnh Tấn T đến làm việc. T thừa nhận là người thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô trên của anh H. Sau khi biết được xe mô tô biển số 67L1-702.17, T nhờ sửa giùm là xe trộm cắp mà có, Lê Mộng T2 đã tự nguyện giao nộp xe cho Công an thành phố C tạm giữ.

Vật chứng tạm giữ gồm:

  • 01 xe mô tô SUZUKI RAIDER màu đỏ xám trắng, biển số 66N1-238.40, đã qua sử dụng; xe mô tô này là tài sản của Dương Văn C1 (T là cậu họ của C1) cho T mượn làm phương tiện đi lại, C1 không biết T dùng xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho C1.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu trắng là tài sản của bà Huỳnh Thị Trúc H1, sinh năm 1970, ngụ Tổ A, Ấp C, xã M, thành phố C, là cô ruột của C1, không liên quan đến việc phạm tội; 01 áo sơ mi sọc màu xám tay dài; 01 quần jean dài màu xanh; 01 đôi giày thể thao màu đen, đế màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ có chữ “TT”; 01 nón lưỡi trai màu đen xám; tất cả đã qua sử dụng là tài sản của T không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. Hiện Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu xong.

Kết luận định giá tài sản số 400/KL-HĐĐGTS ngày 08/8/2023: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, biển số 67L1-702.17, đã qua sử dụng, trị giá: 14.500.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, biển số 67L1-702.17 cho anh Nguyễn Thanh H xong, anh H không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ngoài ra, T khai nhận còn thực hiện 01 vụ trộm khác trước đó, cụ thể: Khoảng 02 giờ ngày 23/7/2023, Huỳnh Tấn T rủ Đặng Văn T4 đi vòng vòng thành phố C chơi. T4 điều khiển xe Yamaha Exciter màu đen (không nhớ biển số) của T4 chở T đi qua các đoạn đường trung tâm thành phố C. Khi đến quán C2 thuộc phường H, thành phố C thì T phát hiện 01 chiếc xe mô tô Honda Future màu đỏ đen, biển số 66P2-114.79 của chị Lê Thị G Chị đậu trên vỉa hè trước quán cơm đối diện trường Cao đẳng C2 ở tổ B, khóm T, phường H, thành phố C không ai trông coi. Khi T4 điều khiển xe qua khỏi nơi đậu xe của chị G Chị đến cầu trường Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp, T kêu T4 cho T xuống xe có công việc riêng, còn T4 điều khiển xe của T4 về nhà trọ ngủ. Sau khi xuống xe, T đến tiếp cận chiếc xe mô tô Honda Future màu đỏ đen, biển số 66P2-114.79 dùng đoạn sắt lục giác và chìa khóa 8 để bẻ khóa xe rồi điều khiển xe vừa trộm được đi Thành phố Hồ Chí Minh đến bến xe M và bán cho một người không rõ họ tên, địa chỉ với giá 5.000.000 đồng, xe không thu hồi được. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, chị G Chị phát hiện chiếc xe bị mất trộm nên trình báo Công an phường H, thành phố C.

Kết luận định giá tài sản số 507/KL-HĐĐGTS ngày 10/10/2023: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ đen, biển số 66P2-114.79, đã qua sử dụng, trị giá: 23.500.000 đồng.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ đen, biển số 66P2-114.79, đã qua sử dụng là tài sản của anh Nguyễn Châu T3 (chồng chị G Chị), ngày 23/7/2023, chị G Chị mượn xe của anh T3 đi công việc cá nhân và bị mất trộm như trên. Anh T3 và chị G Chị thống nhất yêu cầu T bồi thường giá trị xe với số tiền là 23.500.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo Huỳnh Tấn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng của mình như nội dung đã nêu trên; phù hợp biên bản dựng lại hiện trường; vật chứng thu giữ; kết luận định giá tài sản; lời khai người bị hại, người làm chứng, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKS-TPCL ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Huỳnh Tấn T, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T với mức án từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận định giá tài sản, sơ đồ, bản ảnh, biên bản dựng lại hiện trường, lời khai người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Huỳnh Tấn T là người có 02 tiền án chưa được xóa án tích. Vào khoảng 20 giờ ngày 26/7/2023, tại Phòng trọ số 14, nhà T, Tổ A, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, Huỳnh Tấn T có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, biển số 67L1-702.17, trị giá: 14.500.000 đồng của anh Nguyễn Thanh H. Ngoài ra bị cáo T khai nhận trước đó vào lúc 02 giờ ngày 23/7/2023, T có hành vi lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ đen, biển số 66P2-114.79, trị giá 23.500.000 đồng của chị Lê Thị G Chị tại Tổ B, khóm T, phường H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 38.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Bị cáo Huỳnh Tấn T là người có 02 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, chỉ vì mục đích vụ lợi, bị cáo lợi dụng sự sơ hở, thiếu cảnh giác của chủ sở hữu và đã lén lút trộm cắp tài sản 02 lần, một lần trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, biển số 67L1-702.17, trị giá 14.500.000 đồng của anh Nguyễn Thanh H và một lần trộm cắp 01 xe mô tô Honda Future màu đỏ đen, biển số 66P2-114.79, trị giá 23.500.000 đồng của chị Lê Thị G Chị, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 38.000.000 đồng.

Trong phần tranh luận tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa cho rằng bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân nhân thành phố C đã truy tố là hoàn toàn có căn cứ.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Huỳnh Tấn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:...

g) Tái phạm nguy hiểm; ....”

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, ngoài ra bị cáo T là người có 02 tiền án, đã tái phạm, chưa được xóa án tích và có nhân thân xấu. Do đó, cần áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, cũng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét các tình tiết:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội 02 lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú khai nhận hành vi trộm cắp tài sản lần trước đó vào ngày 23/7/2023 tại khóm T, phường H và theo Công văn số 677/UBND, ngày 17/11/2023 của Ủy ban nhân dân xã M, thành phố C xác nhận bị cáo T có cha Huỳnh Văn T1 là người trực tiếp tham gia hoạt động kháng chiến chống Mỹ đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thanh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì nên không xem xét.

Đối với tài sản là 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ đen, biển số 66P2-114.79 bị mất, không thu hồi được là tài sản chung của vợ chồng anh Nguyễn Châu T3 và chị Lê Thị G Chị. Anh T3 và chị G Chị yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ đen bị mất với số tiền là 23.500.000 đồng. Bị cáo T đồng ý bồi thường thiệt hại số tiền là 23.500.000 đồng cho chị Lê Thị G Chị và anh Nguyễn Châu T3 là hoàn toàn tự nguyện nên chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • 01 xe mô tô SUZUKI RAIDER màu đỏ xám trắng, biển số 66N1-238.40 mà T sử dụng vào việc phạm tội, là tài sản cá nhân của Dương Văn C1 (T là cậu họ của C1) cho T mượn làm phương tiện đi lại, anh C1 không biết T sử dụng xe để đi trộm cắp tài sản nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho C1 xong.
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu trắng là tài sản của bà Huỳnh Thị Trúc H1, sinh năm 1970, ngụ tổ A, ấp C, xã M, thành phố C, là cô ruột của C1, không liên quan đến việc phạm tội; 01 áo sơ mi sọc màu xám tay dài; 01 quần jean dài màu xanh; 01 đôi giày thể thao màu đen, đế màu trắng; 01 nón bảo hiểm màu đỏ có chữ “TT”; 01 nón lưỡi trai màu đen xám; đã qua sử dụng là tài sản của T không liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu xong.

[6] Về các vấn đề khác:

Đối với Đặng Văn T4 là người điều khiển xe chở T đi đến địa điểm để T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng các lần T4 chỉ nghe T nói đi chơi, không nghe T rủ rê, bàn bạc gì liên quan đến hành vi trộm cắp tài sản. Đồng thời, khi T thực hiện hành vi trộm tài sản thì T4 đứng ở khoảng cách xa không nhìn rõ, không biết và cũng không chứng kiến T thực hiện hành vi trộm. Do đó chưa đủ căn cứ xử lý T4 đồng phạm với T hành vi trộm cắp tài sản.

Đối với Lê Mộng T2, được T nhờ đem xe mô tô Honda Vision màu xanh đen, biển số 67L1-702.17 đi sửa xe giùm T, chị T2 không biết xe trên là tài sản do trộm cắp mà có nên không xem xét xử lý đối với Lê Mộng T2.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tại phiên tòa, như đã phân tích nêu trên là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/11/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật hình sự và Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo Huỳnh Tấn T phải bồi thường thiệt hại cho chị Lê Thị G Chị và anh Nguyễn Châu T3 số tiền là 23.500.000 đồng (Hai mươi ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Tấn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và phải nộp 1.175.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND TPCL;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - CQĐT Công an TPCL;
  • - CQTHAHS Công an TPCL;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Tấn T phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger