Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY ĐỨC

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày 14 – 6 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Quang Trung.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thiên Viết và ông Vũ Đức Minh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Điểu Smi – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 17/5/2024 đối với bị cáo:

Hoàng Minh T (Tên gọi khác: Không), sinh năm 1984 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Mường; con ông Hoàng Văn M (đã chết) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; có vợ là Vũ Thị N, sinh năm 1986 và 02 con (lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú – có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vũ Thị N, sinh năm 1986; địa chỉ: Bon B, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông – có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Minh T có nhu cầu mua pháo nổ (pháo hoa nổ) về dùng nhân dịp Tết Nguyên Đán năm 2024, nên T vào tài khoản Zalo, tìm kiếm và đặt mua 06 hộp pháo nổ loại dàn 100 viên, 06 hộp pháo nổ loại dàn 49 viên và 07 bịch pháo bi của một người đàn ông không rõ nhân thân lại lịch, với tổng số tiền là 4.000.000 đồng; hai bên thống nhất giao pháo tại khu vực một cây xăng thuộc huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Đến khoảng 15 giờ, ngày 30/01/2024, T điều khiển xe tải, biển kiểm soát 48H-004.35 đến điểm hẹn, gặp người đàn ông để nhận pháo nổ và đưa số tiền 4.000.000 đồng, rồi mang 01 bao tải màu đen sọc xanh, bên trong có 06 hộp pháo nổ loại 100 ống, 01 bao màu vàng bên trong 06 hộp pháo nổ loại 49 ống và 01 bao nilon màu trắng đựng 07 bịch pháo bi, bỏ lên thùng xe, lấy bạt phủ lại. Sau đó, T điều khiển xe đi về hướng huyện T, tỉnh Đắk Nông. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi đến đoạn đường thuộc thôn D, xã Q, huyện T thì dừng xe để đưa 06 hộp pháo nổ cho T1 (không rõ nhân thân lai lịch) thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ 01 xe tải biển kiểm soát 48H-004.35; 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung, màu xanh; 01 bao tải màu đen sọc xanh bên trong có: 06 hộp pháo nổ loại 100 ống, 01 bao màu vàng bên trong 06 hộp pháo nổ loại 49 ống và 01 bao nilon màu trắng đựng 07 bịch pháo bi.

Tại bản Kết luận giám định số 102 ngày 02/02/2024, của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:

06 Hộp giấy dạng hình hộp chữ nhật có cùng kích thước (24x24x10)cm, in dòng chữ “100 SHOT CAKE", bên trong mỗi hộp giấy chứa 100 ống hình trụ tròn, gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 18,839kg.

06 Hộp giấy dạng hình hộp chữ nhật có cùng kích thước (17x17x10)cm, trong đó có 03 hộp giấy in dòng chữ “49 SHOT CAKE" và 03 hộp giấy in dòng chữ "DM", bên trong mỗi hộp giấy chứa 49 ống hình trụ tròn, gửi giám định đều là pháo nổ (pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 9,2565kg.

07 Bịch nilon màu trắng, trong mỗi bịch chứa các vật dạng hình cầu, nhiều màu sắc, trên mỗi quả cầu đều có gắn sợi dây màu xanh, gửi giám định đều là pháo nổ. Tổng khối lượng là 03,1780kg.

Tổng khối lượng pháo là 31.2735 kg.

Tại Bản Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Hoàng Minh T về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã xác định: Khoảng 22 giờ, ngày 30/01/2024, tại thôn D, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt quả tang Hoàng Minh T có hành vi tàng trữ 01 bao tải màu đen sọc xanh, bên trong có 06 hộp pháo nổ loại 100 ống, 01 bao màu vàng, bên trong 06 hộp pháo nổ loại 49 ống và 01 bao nilon màu trắng, đựng 07 bịch pháo bi, có tổng khối lượng 31.2735 kg; hành vi của bị cáo Hoàng Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự; đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Minh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ hoàn lại sau giám định; trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Vũ Thị N chiếc xe tải biển kiểm soát 48H-004.35; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung, màu xanh của bị cáo T.

Đối với người đàn ông bán pháo nổ, T đã xóa thông tin, không tìm lại được nên không có căn cứ để xác minh. Đối với người đàn ông tên T1 nhờ T mua pháo nổ, chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T sẽ tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với chị Vũ Thị N là chủ sở hữu chiếc xe tải biển số 48H-004.35. N không biết việc T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên không đề cập xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự là đúng, không oan; bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ mục đích mua pháo nổ về dùng nhân dịp Tết Nguyên Đ, nên vào khoảng 22 giờ ngày 30/01/2024, tại đoạn đường nhựa thuộc thôn D, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt quả tang Hoàng Minh T có hành vi tàng trữ 01 bao tải màu đen sọc xanh, bên trong có 06 hộp pháo nổ loại 100 ống, 01 bao màu vàng, bên trong có 06 hộp pháo nổ loại 49 ống và 01 bao nilon màu trắng đựng 07 bịch pháo bi, có tổng khối lượng 31.2735 kg. Tại Bản kết luận giám định kết luận: 31.2735 kg là pháo nổ. Vì vậy, có đủ căn cứ pháp lý để kết luận bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức là có căn cứ pháp luật.

Điều 191 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 232, 234, 244, 246, 249, 250, 253, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước về chất cấm, hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo đang phải điều trị bệnh rối loạn chuyển hóa sắt, chị N – vợ bị cáo đang điều trị bệnh U ác cổ tử cung; gia đình thuộc diện hộ nghèo; có bố là ông Hoàng Văn M được tặng Huy chương Kháng chiến hạng nhất và Huy chương Chiến sĩ giải phóng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Kết hợp tình tiết giảm nhẹ nêu trên để Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt đối với bị cáo và xét thấy không cần thiết phải buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo để tự học tập, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo; do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số pháo nổ hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiêu hủy là đúng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần chấp nhận.

Đối với chiếc xe tải biển kiểm soát 48H-004.35 là vật chứng của vụ án nhưng là tài sản chung của bị cáo T với chị Vũ Thị N, chị N không biết bị cáo T sử dụng vào việc phạm tội nên Công an huyện T đã trả lại cho chị N là đúng quy định tại khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên cần chấp nhận.

Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung, màu xanh đã qua sử dụng, bị cáo T dùng vào việc liên lạc để mua pháo nổ nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Đối với người đàn ông đã bán pháo nổ, T đã xóa thông tin nên không có căn cứ để xác minh. Đối với người đàn ông tên T1, nhờ T mua pháo nổ, chưa xác định được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T sẽ tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau. Đối với chị Vũ Thị N là chủ sở hữu chiếc xe tải biển số 48H-004.35, chị N không biết việc T sử dụng làm phương tiện phạm tội nên không đề cập xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hoàng Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 14/6/2024.

Giao bị cáo Hoàng Minh T cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông phối hợp cùng gia đình quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1 Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ hoàn lại sau giám định và trả lại cho chị Vũ Thị N chiếc xe tải biển kiểm soát 48H-004.35.

2.2 Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Sam sung, màu xanh đã qua sử dụng.

(Đặc điểm vật chứng thực hiện biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/06/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Minh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Phòng PV27 CA tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Tuy Đức;
  • - Công an huyện Tuy Đức;
  • - Chi Cục THADS huyện Tuy Đức;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu, HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phan Quang Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG về tàng trữ hàng cấm (hình sự)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger