Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LA GI

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/DS-ST

Ngày: 14-5-2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Vũ Anh Kiệt và ông Trịnh Văn Thái;

Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Như Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã La Gi;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 343/2023/TLST-DS ngày 27/11/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 25/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm: 1967. Địa chỉ: Khu phố G, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Băng D1, sinh năm: 1986. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1978. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

Ông Nguyễn Quốc V, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị D trình bày: Bà cho bà D1 vay 03 lần cụ thể: Vào ngày 13/7/2019 bà cho bà D1 vay 91 triệu và 01 chỉ vàng 24k để mua cá mực bán tại bến D, bà D1 cam kết ngày 15/9/2019 trả nợ. Tiếp đó vào ngày 05/02/2020 bà cho bà D1 vay số tiền 20 triệu đồng để mua mực bán tại bến D, bà D1 cam kết vay trong thời hạn 01 tháng sẽ trả nợ. Và ngày 06/3/2020 bà cho bà D1 vay số tiền 10 triệu đồng để sửa thuyền của vợ chồng bà D1, bà D1 cam kết vay trong thời hạn 01 tháng sẽ trả nợ. Khoản vay tới hạn, bà đã yêu cầu nhiều lần nhưng vợ chồng bà D1 không trả nợ. Khi vay hai bên không thỏa thuận lãi vay. Nguồn gốc số tiền bà cho bà D1 vay là tài sản cá nhân bà.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Quốc V, bà Nguyễn Băng D1 và ông Nguyễn Văn T phải trả cho bà 01 chỉ vàng 24k, 121 triệu đồng tiền vay và tiền lãi phát sinh lãi từ ngày 07/4/2020 cho đến ngày 07/5/2024 với lãi suất 10%/năm, không yêu cầu tới ngày xét xử vụ án.

- Theo biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân thị xã La Gi thì bà Nguyễn Băng D1 trình bày như sau: Bà có vay tiền của bà D nhiều lần không phải 03 lần vay như bà D trình bày, nhưng bà không nhớ rõ số tiền vay mỗi lần và cụ thể thời gian vay. Nhưng đối với 03 giấy tay bà D cung cấp bà thừa nhận có ký tên vào các giấy tay này. Tổng số tiền bà vay của bà D là 121 triệu đồng và 01 chỉ vàng 24k. Nhưng đối với khoản vay 20 triệu đồng ngày 05/02/2020, bà đã trả góp mỗi tháng 1 triệu đồng và đã trả xong, đối khoản vay 10 triệu đồng ngày 06/3/2020, bà đã trả góp mỗi tháng 500.000 đồng và đã trả xong, đối với khoản vay 91 triệu và 1 chỉ vàng 24k ngày 13/7/2019 thì bà đã trả khoảng 45 triệu, bà chỉ còn nợ lại 45 triệu và 1 chỉ vàng 24k.

Vì chỗ tin tưởng với nhau nên khi trả tiền bà không lấy lại giấy vay tiền. Bà không có chứng cứ chứng minh việc đã trả tiền cho bà D. Đối với khoản vay 10 triệu và 20 triệu là tiền gốc không cộng lãi. Đối với khoản vay 91 triệu là bà vay 60 triệu, bà D cộng lãi 31 triệu vào thành 91 triệu đồng. Bà chưa trả lãi cho bà D, nên bà D cộng tiền lãi vào gốc. Bà không có chứng cứ chứng minh việc cộng lãi vào gốc, đề nghị Tòa án xem xét. Bà vay tiền của bà D để buôn bán (bán mực ở bến Dinh T) kiếm tiền để chi tiêu trong gia đình. Bà cũng thừa nhận ký tên vào biên bản làm việc tại Công an xã T, thị xã L ngày 03/8/2022. Tuy nhiên, nội dung làm việc thì bà không rõ.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà chỉ đồng ý một mình bà trả cho bà D số tiền 45.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k. Chồng bà không ký nên không liên quan tới việc vay này. Đối với yêu cầu trả lãi thì bà xin không trả do bà đang nợ nhiều người và bà đã trả tiền cho D nhiều lần rồi.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T, Nguyễn Quốc V: Đã được Tòa án nhân dân thị xã La Gi tống đạt các văn bản tố tụng, nhưng ông T, ông V không có mặt để giải quyết vụ án.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi cho rằng:

- Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự; Thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng là phù hợp quy định pháp luật; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử thực hiện đúng phiên tòa sơ thẩm; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đương sự đã thực hiện theo quy định.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Nguyễn Quốc V, bà Nguyễn Băng D1 phải trả cho bà Trần Thị D số tiền 121 triệu đồng, 01 chỉ vàng 24k và tiền lãi phát sinh theo quy định. Ông Nguyễn Quốc V, bà Nguyễn Băng D1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đơn khởi kiện, thẩm tra các chứng cứ và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Bà Trần Thị D khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Băng D1 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có địa chỉ tại thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Do đó, Tòa án nhân dân thị xã La Gi thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Tại phiên tòa, ông Nguyễn Quốc V, ông Nguyễn Văn T đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Đối với khoản nợ gốc:

Xét hợp đồng vay tiền do nguyên đơn cung cấp, bà D1 thừa nhận bà có ký vào những Giấy tay vay tiền này. Mặc dù, bà D1 trình bày khoản vay 20 triệu đồng ngày 05/02/2020 và khoản vay 10 triệu đồng ngày 06/3/2020 bà đã trả xong, đối khoản vay 91 triệu và 01 chỉ vàng 24k ngày 13/7/2019 bà đã trả khoảng 45 triệu rồi, bà chỉ còn nợ lại 45 triệu và 1 chỉ vàng 24k. Đối với khoản vay 91 triệu (thực tế là bà D1 vay 60 triệu bà D cộng tiền lãi mỗi tháng 6 triệu vào thành 91 triệu đồng).Tuy nhiên, lời trình bày của bà D1 không được bà D thừa nhận, bà D1 cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh việc bà đã trả tiền cho bà D. Hơn nữa, theo Biên bản làm việc tại Công an xã T, thị xã L ngày 03/8/2022 thì bà D1 cũng xác nhận nợ bà D số tiền 121 triệu đồng và 01 chỉ vàng 24k.

Theo hợp đồng vay tiền các bên ký kết vào ngày 13/7/2019 thì thời hạn trả nợ là ngày 15/9/2019, ký kết ngày 05/2/2020 thì thời hạn vay là 01 tháng, ký kết ngày 06/3/2020 thì thời hạn vay là 01 tháng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Bà Nguyễn Băng D1 có vay của bà Trần Thị D tổng số tiền 121 triệu đồng và 01 chỉ vàng 24k, khoản vay đã quá hạn nên bà D yêu cầu trả khoản nợ gốc này là hoàn toàn có căn cứ.

[2.2] Đối với khoản tiền lãi chậm thanh toán:

Xét Hợp đồng vay tiền mà các bên ký kết thể hiện không thỏa thuận về lãi suất vay. Nguyên đơn yêu cầu tính tiền lãi chậm thanh toán từ ngày quá hạn của khoản vay sau cùng (ngày 07/4/2020) cho đến ngày 07/5/2024 theo lãi suất 10%/năm đối với số tiền vay là 121 triệu đồng. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, có lợi cho bị đơn và phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Lãi suất chậm thanh toán từ ngày 07/4/2020 đến 07/5/2024 là: 121.000.000 đồng x 10%/năm x 04 năm = 48.400.000 đồng.

[2.3] Như vậy, tổng số vàng, tiền gốc và lãi phía bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 01 chỉ vàng 24k + 121.000.000 đồng + 48.400.000 đồng = 169.400.000 đồng và 01 chỉ vàng 24k (Giá vàng tại thời điểm xét xử là 7.570.000 đồng/chỉ)

[2.4] Về trách nhiệm trả nợ:

Mặc dù bà D1 trình bày chồng bà (ông Nguyễn Quốc V) không biết đến việc bà vay tiền của bà D, nhưng khoản vay này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa ông bà. Vợ chồng có 03 con chung, chi tiêu trong gia đình thì vợ chồng bà cùng chi trả. Hơn nữa, mục đích bà vay tiền của bà D để buôn bán (bán mực ở bến Dinh T) kiếm tiền để chi tiêu trong gia đình. Tòa án cũng đã triệu tập hợp lệ ông V nhiều lần nhưng ông không đến Tòa để trình bày ý kiến, nên việc vắng mặt của ông V được coi là ông từ bỏ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong vụ án.

Do đó, khoản tiền nợ gốc và lãi được xác định như mục [2.3] nêu trên, vợ chồng ông V, bà D1 phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà D theo khoản 4 Điều 37 và Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Đối với ông Nguyễn Văn T, xét thấy việc vay tiền không liên quan tới ông, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc ông T có trách nhiệm liên đới trả nợ.

[3] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Ý kiến của phía bị đơn không phù hợp, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông V, bà D1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 463, 466, 468, 470, 357 Bộ luật Dân sự;
  • Điều 27 và khoản 4 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình;
  • Khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị D:

Buộc ông Nguyễn Quốc V, bà Nguyễn Băng D1 có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị D số tiền 169.400.000 đồng01 chỉ vàng 24k. Trong đó, nợ gốc là 121.000.000 đồng và tiền lãi là 48.400.000 đồng.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Án phí:

- Bà Trần Thị D không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Trần Thị D số tiền 4.695.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai số 0002248 ngày 23/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.

- Ông Nguyễn Quốc V, bà Nguyễn Băng D1 phải liên đới chịu 8.848.500 án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc được niêm yết theo quy định.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã sửa đổi, bổ sung.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã La Gi;
  • - Chi cục THADS thị xã La Gi;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 28/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Trần Thị D và Nguyễn Băng D1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger