Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-5-2024

V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Quang Sơn và bà Phạm Thị Hoan.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Bốn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 14/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 20/02/2024, về việc: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/4/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1991, vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1971, vắng mặt.
  3. Đều có địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.
  4. Người đại diện theo uỷ quyền của chị X trong việc giao, nộp tài liệu, chứng cứ và nhận các văn bản tố tụng: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985, địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, vắng mặt.
  5. Người làm chứng: Bà Phan Thị C, sinh năm 1932, địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị X trình bày: Chị và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 13/02/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vợ chồng chung sống đến khoảng năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không bảo ban nhau được trong cuộc sống thường ngày và chênh lệch tuổi tác. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm tới nhau. Nay, chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh L.

Về con chung: Chị và anh L có hai con là Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 30/11/2009; Nguyễn Phú L1, sinh ngày 23/6/2013. Khi ly hôn, chị X đề nghị được nuôi dưỡng các con và không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con.

Về tài sản, công sức, nợ: Chị X không yêu cầu giải quyết.

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn anh L trình bày: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, anh đồng ý với lời khai nhận của chị X. Anh L xác định, vợ chồng chung sống được khoảng 06 đến 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai bên không hợp tính nết. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm tới nhau, việc ai người đó làm. Nay, anh L xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, chị X xin ly hôn, anh không đồng ý.

Về con chung: Anh L xác định vợ chồng có hai con chung như chị X trình bày. Nếu chị X cương quyết xin ly hôn, anh xin nhận nuôi dưỡng cháu L1; còn cháu A giao chị X nuôi dưỡng; hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho nhau.

Về tài sản, công sức, nợ: Anh L không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện: Khi còn chung sống hai bên đương sự có xảy ra mâu thuẫn, đến nay đã trầm trọng, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm, không hợp tính nết mặc dù đã được gia đình khuyên bảo. Hiện tại chị X, anh L đã sống ly thân, không còn quan tâm tới nhau, việc ai người đó làm.

Người làm chứng bà C (mẹ của anh L) xác định quá trình chung sống giữa chị X, anh L có phát sinh mâu thuẫn, đã được gia đình động viên nhiều lần nhưng không thành, đã sống ly thân. Bà C đề nghị Toà án động viên các bên đương sự về đoàn tụ hôn nhân.

Đại diện VKSND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành, người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật (trừ anh L). Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 39 của Bộ luật Dân sự. Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228, 229 của Bộ luật tố tụng dân sự. Luật phí và lệ phí. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị, xử: Chị X được ly hôn anh L; giao các con chung cho chị X nuôi dưỡng; chấp nhận sự tự nguyện của chị X không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con. Chị X phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX, nhận định.

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị X và người đại diện theo uỷ quyền của chị X trong việc giao, nộp tài liệu, chứng cứ và nhận các văn bản tố tụng là chị T và người làm chứng bà C đều đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt. Bị đơn anh L đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vắng mặt, không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228, 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[1]. Về hôn nhân: Chị X, anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào ngày 13/02/2009 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, được xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai bên đương sự phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, chênh lệch tuổi tác, không bảo ban nhau được trong cuộc sống thường ngày và không còn sự tin tưởng, tôn trọng nhau. Theo chính quyền địa phương, người thân trong gia đình đương sự xác định: Mâu thuẫn vợ chồng giữa hai bên đương sự đã trầm trọng, không còn khả năng đoàn tụ hôn nhân. Quá trình giải quyết vụ án, chị X cương quyết xin ly hôn; còn anh L xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn, nhưng cũng không đưa ra được biện pháp nào để cải thiện tình trạng hôn nhân. Như vậy, từ những căn cứ như đã nêu ở trên, chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa hai bên đương sự đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử chị X được ly hôn anh L.

[3]. Về con chung: Xác định chị X, anh L có hai con là Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 30/11/2009; Nguyễn Phú L1, sinh ngày 23/6/2013. Khi ly hôn, chị X có nguyện vọng nuôi cả hai con, tự nguyện không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh L có quan điểm nhận nuôi dưỡng cháu L1, còn cháu A giao cho chị X nuôi dưỡng. Sau khi xem xét quan điểm của đương sự, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, HĐXX thấy rằng: Về việc làm, thu nhập, chỗ ở của các bên đương sự cơ bản là như nhau. Tuy nhiên, do các cháu A, L1 đã trên 07 tuổi và đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ là chị X, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của chị X, nguyện vọng của các cháu A, L1 và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, giao các cháu A, L1 cho chị X nuôi dưỡng là phù hợp với các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời ghi nhận sự tự nguyện của chị X không yêu cầu anh L cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.

[4]. Về tài sản, công sức, nợ: Đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị X phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 147, 227, 228, 229, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X ly hôn anh Nguyễn Văn L.
  2. Về con chung: Giao con Nguyễn Ngọc Bảo A, sinh ngày 30/11/2009 và Nguyễn Phú L1, sinh ngày 23/6/2013 cho chị Nguyễn Thị X trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Chị X tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Văn L phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
  3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ký hiệu BLTU/23, số 0001030 ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
  4. Quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - Các đương sự & chị Tâm;
  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Hà;
  • - UBND xã Thanh Xá, huyện Thanh Hà
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
  • - Lưu Toà án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Mạnh Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Xuân - Nguyễn Văn Lịch
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger