|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 6 - 2024 V/v tranh chấp Hôn nhân gia đình |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ.
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình
Ông Nguyễn Hữu Thắng
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Thắng - Thư ký TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Bà Vũ Kim Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2024/ TLST – HNGĐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXX-ST, ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 20/2024/TB-TA, ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993
- Địa chỉ: Khu N, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- - Bị đơn: Anh Phạm Văn M, sinh năm 1982
- Địa chỉ: Khu N, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
- (Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Chị và anh M kết hôn ngày 05/8/2011, đăng ký tại UBND xã N nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hay sảy ra mâu thuẫn, cãi vã, xô xát do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng sống không hợp nhau. Khoảng 04 năm nay, chị đã dọn về nhà mẹ đẻ ở gần đó và vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau. Nay xét thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị được ly hôn anh M.
Về con chung: Chị và anh M có 01 con chung là Phạm Đức H, sinh ngày 14/6/2012. Hiện cháu đang ở cùng anh M. Sau ly hôn, chị đồng ý để anh M trực tiếp nuôi dưỡng cháu H.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.
- Bị đơn anh Phạm Văn M trình bày: Anh và chị T kết hôn với nhau vào ngày 05/8/2011, đăng ký tại UBND xã N nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở hai bên đều hoàn toàn tự nguyện. Sau kết hôn vợ chồng sinh sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng có hay sảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng hay sảy ra cãi vã. Khoảng 04 năm nay, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên chị T đã dọn về nhà mẹ đẻ ở gần đó nên vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau. Nay chị T đề nghị Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị ly hôn anh. Quan điểm của anh là đồng ý ly hôn. Do bận công việc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.
Về con chung: Anh và chị T có 01 con chung là Phạm Đức H, sinh ngày 14/6/2012. Hiện cháu H đang ở cùng anh. Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và không đề nghị chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.
- Qúa trình giải quyết vụ án các bên đương sự vẫn giữ nguyên quan điểm của mình. Bị đơn anh M đã được Tòa án gửi thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Nhưng do bận công việc nên không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải được. Do vậy, Tòa án không thể tiến hành hòa giải vụ án được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh M đã có quan điểm trình bày và đề nghị Toà án giải quyết và xét xử vắng mặt anh.
- Ý kiến của con chung: Con chung là cháu Phạm Đức H, sinh ngày 14/6/2012 có nguyện vọng xin được ở với bố là anh M sau khi bố mẹ ly hôn.
- Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của pháp luật không có vi phạm gì và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/ UBTQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án.
- + Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn M.
- + Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Đức H, sinh ngày 14/6/2012 cho anh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì anh M tự nguyện không yêu cầu. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- + Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng: Quan hệ trong vụ án này là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình giữa nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T và bị đơn là anh Phạm Văn M, anh M có nơi cư trú tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Nguyên đơn chị T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt chị T. Tòa án đã tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo mở lại phiên tòa hợp lệ cho anh M nhưng anh M không đến Tòa án để tham gia phiên tòa. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh M.
- Về nội dung: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn M là hôn nhân hợp pháp, hai bên kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 05/8/2011 tại UBND xã N nay là xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau kết hôn vợ chồng anh chị sinh sống tại xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Chị T và anh M đều xác định quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên sảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng hay sảy ra cãi vã. Khoảng 04 năm nay, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng nên chị T đã dọn về nhà mẹ đẻ và vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay, không còn quan tâm nhau. Nay chị T đề nghị Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng giải quyết cho chị ly hôn anh M. Quan điểm của anh M là đồng ý ly hôn. Xét thấy, việc chị T và anh M thuận tình ly hôn là phù hợp với điều 55 Luật hôn nhân và gia đình. Do vậy cần công nhận thuận tình ly hôn giữa chị T và anh M.
- Về con chung: Chị T và anh M có 01 con chung là Phạm Đức H, sinh ngày 14/6/2012. Hiện cháu đang ở cùng anh M. Ly hôn, anh M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H và không đề nghị chị T phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh. Quan điểm của chị T cũng đồng ý để anh M nuôi con, vì cháu H có nguyện vọng xin được ở cùng bố sau khi bố mẹ ly hôn. Xét thấy việc tự nguyện thỏa thuận về việc nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn của chị T và anh M là tự nguyện và phù hợp nên cần chấp nhận. Vì vậy cần giao con chung là cháu Phạm Đức H, sinh ngày 14/6/2012 cho anh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung do anh M tự nguyện không yêu cầu. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Xét thấy việc chị T tự nguyện xin chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp, nên cần chấp nhận.
- Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.
- Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1, Điều 39, khoản 4 điều 147, Điều 207, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 điều 51, Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a, khoản 5 điều 27 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 về thu, nộp và sử dụng, án phí, lệ phí toà án:
- Xử: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn M.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Đức H, sinh ngày 14/6/2012 cho anh M trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì anh M tự nguyện không yêu cầu. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T tự nguyện xin chịu cả 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng). Xác nhận chị T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/2023, số 0002162 ngày 25/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Hoàn trả cho chị T 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
Báo cho các đương sự (vắng mặt) tại phiên toà biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án, để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Khanh |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Phạm Văn M.
