TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13-5-2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thiên Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Văn Hoàng
- Bà Đặng Thị Bích Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1980;
Địa chỉ: Ấp K, xã B, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp K, xã B, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
(Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 04/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Nguyễn Ngọc T1 xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An ngày 12/7/2019 (Giấy đăng ký số 40). Cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống. Ông và bà T1 đã không còn chung sống với nhau từ năm 2022 cho đến nay. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa nên yêu cầu ly hôn với bà T1.
Về con chung: Ông và bà T1 có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Thu Hương, sinh ngày 02/10/2020, hiện cháu Hương đang sống với ông T. Sau khi ly hôn, ông yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Ông và bà T1 không có nợ chung.
Bị đơn bà Nguyễn Ngọc T1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không lý do và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, qua thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Ông Nguyễn Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Ngọc T1. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn bà Nguyễn Ngọc T1 đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng đều vắng mặt. Căn cứ khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu ly hôn của ông T, Hội đồng xét xử thấy rằng;
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Ngọc T1 xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống thì hai bên phát sinh mâu thuẫn. Nay ông T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với bà T1. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, riêng bà T1 vắng mặt và không gửi cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình về yêu cầu khởi kiện của ông T. Từ đó, cho thấy bà T1 cũng không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, cuộc sống chung của ông T và bà T1 đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T.
[2.2] Về con chung: Ông T và bà T1 có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Thu Hương, sinh ngày 02/10/2020. Sau khi ly hôn, ông T yêu cầu được nuôi cháu Hương. Xét thấy, hiện cháu Hương đang sống với ông T, cuộc sống đã ổn định. Bà T1 vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cháu Hương cho ông T được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và xác định giữa ông và bà T1 không có nợ chung. Bà T1 vắng mặt và không có văn bản nêu ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T về việc "Ly hôn" với bà Nguyễn Ngọc T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thanh T được ly hôn với bà Nguyễn Ngọc T1.
- Về con chung: Ông Nguyễn Thanh T và bà Nguyễn Ngọc T1 có 01 (một) con chung tên Nguyễn Thị Thu Hương, sinh ngày 02/10/2020. Sau khi ly hôn, ông T được quyền nuôi dưỡng cháu Hương. Bà T1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên đương sự, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con theo luật định.
Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007041 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thiên Trang |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T "Ly hôn" Nguyễn Thị Ngọc T1
