Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CỬA LÒ

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 12/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh

- Các Hội thẩm nhân dân: +. Ông Nguyễn Xuân Hoàng

+. Bà Nguyễn Thị Việt Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST – HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh ngày 10/01/2005. Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không

Nơi cư trú: Khối V, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Lê Văn D, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1974. Anh chị em ruột có ba người, bị cáo là con thứ hai. Vợ, Con: Chưa có

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” từ ngày 04/6/2024 đến ngày 10/6/2024 và áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; “Tạm hoãn xuất cảnh” từ ngày 10/06/2024 đến ngày 10/8/2024. Có mặt.

- Bị hại: Chị Trần Thị H, sinh năm 1991. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Khối V, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện game khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 03/6/2024, tại khối V, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà chị Trần Thị H lấy trộm 01 (một) Laptop nhãn hiệu HP màu bạc, Coi 3, mã orc 70275344, kích thước 24x36cm; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GalaxyA4 số Imei 1: 865545056068693; số imei2: 865545056068685 và số tiền 300.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Lê Văn T chiếm đoạt thuộc sở hữu của chị Trần Thị H là 2.700.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Lê Văn T khai nhận về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03 tháng 6 năm 2024, Lê Văn T đi bộ từ nhà ở (đường N thuộc khối V, phường N) ra đường Ngô Quảng thì phát hiện nhà chị Trần Thị H không khóa cửa cổng. Lê Văn T quan sát không thấy ai nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà chị H lấy trộm tài sản. T đẩy cổng đi vào đi một vòng xung quanh nhà nhưng đều đóng cửa. T đi đến tủ giày thì thấy có 01 chùm chìa khóa nên cầm lên mở cửa chính thì mở được cửa. T đi vào phòng ngủ bên cạnh phòng khách thì thấy có 01 cái Laptop nhãn hiệu HP màu bạc kích thước khoảng 24x36cm để trên bàn học, bên trong kẹp 300.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 màu đen ở trên giường. T liền lấy L cùng số tiền 300.000 đồng và điện thoại di động rồi quay ra khóa cửa, bỏ chìa khóa lại chỗ cũ rồi đi về nhà. Khi về đến nhà, T lấy xe máy biển kiểm soát 37 S1 – 13452 mượn của chị Nguyễn Thị H1 ở khối C, phường N, thị xã C mang số tài sản vừa lấy trộm đi tiêu thụ. Do điện thoại di động có mật khẩu nên T đưa điện thoại đến cửa hàng D2 ở khối A, phường N, thị xã C gặp anh Hoàng Trường D1, sinh năm 1989 là chủ cửa hàng để nhờ bẻ khóa. T nói với anh D1 là điện thoại để lâu không sử dụng nên quên mật khẩu. Sau khi anh D1 bẻ khóa điện thoại xong, T lấy số tiền 300.000 đồng thanh toán tiền công cho anh D1. T tiếp tục đưa chiếc điện thoại di động đó đến cửa hàng Đ ở khối Đ, phường N, thị xã C gặp chị Dương Thị X, sinh năm 1992 là nhân viên cửa hàng để bán. Chị X sau khi kiểm tra điện thoại đã đồng ý mua với giá 700.000 đồng. Sau đó T tiếp tục đến cửa hàng M ở khối Y, phường N, thị xã C gặp anh Hoàng Phúc T2, sinh năm 1983 là chủ cửa hàng để bán Laptop. T nói với anh T2 đó là L của T không dùng nữa, anh T2 kiểm tra và đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản T lấy trộm được là 3.000.000 đồng gồm tiền mặt là 300.000 đồng và 2.700.000 đồng là số tiền bán L và điện thoại di động. Tất cả số tiền này T sử dụng vào việc chơi game.

Kết luận định giá tài sản số 02 ngày 07/6/2024 của Hội đồng định giá UBND thị xã C kết luận: 01 cái Laptop nhãn hiệu HP màu bạc, Coi3, mã orc 70275344, kích thước 24x36cm có trị giá 1.900.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A04 trị giá 500.000 đồng. Tổng cộng là 2.400.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 24/CT – VKS - CL ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò giữ quyền công tố và luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 04 tháng tù đến 05 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Tài sản đã được trả lại cho bị hại, nay bị hại không có yêu cầu gì, miễn xét.

Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 6S Plus màu bạc mà bị cáo sử dụng để chuyển số tiền do phạm tội mà có vào tài khoản mang ngân hàng V số 1019316632 mang tên Le Chi N.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T nhận tội, đồng ý với nội dung bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và được Hội đồng xét xử sử dụng làm chứng cứ xem xét khi giải quyết vụ án.

[2]. Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại đã được tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập phiên tòa hình sự nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai của họ; xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở để kết luận: Do nghiện game khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 03/6/2024, tại khối V, phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An, Lê Văn T đã có hành vi lén lút đột nhập vào nhà chị Trần Thị H lấy trộm 01 (một) Laptop nhãn hiệu HP màu bạc, Coi 3, mã orc 70275344, kích thước 24x36cm; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung GalaxyA4 số Imei 1: 865545056068693; số imei2: 865545056068685 và số tiền 300.000 đồng. Giá trị tài sản Lê Văn T chiếm đoạt thuộc sở hữu của chị Trần Thị H là 2.700.000 đồng.

Hành vi lợi dụng sơ hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Lê Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 2.700.000 đồng do đó Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Xét tính chất vụ án: Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, phạm tội với lỗi cố ý. Việc khởi tố, điều tra, đưa bị cáo ra xét xử kịp thời là hết sức cần thiết nhằm xử lý và ngăn chặn tình trạng trộm cắp tài sản trên địa bàn.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo trong vụ án:

Tại thời điểm phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ là: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện khắc phục hậu quả; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú; có ông cố là liệt sỹ. Các tình tiết giảm nhẹ này quy định tại các điểm i, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo nhân thân tốt, mới bước qua tuổi thành niên, không có tiền án, tiền sự, có địa chỉ cư trú rõ ràng, tài sản chiếm đoạt đã trả lại cho bị hại. Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ vào nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại d khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự và mục đích của hình phạt, cần xem xét, áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới khung quy định để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật và chưa cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ răn đe và giáo dục thành công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt từ 04 tháng đến 05 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp, cần chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên bị cáo không có công ăn việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị xử phạt tù cho hưởng án treo nên việc áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo là không cần thiết. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

[7] Về dân sự: Tài sản đã được trả lại cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Đối với Hoàng Trường D1, Dương Thị X, Hoàng Phúc T2 là người bẻ khóa điện thoại, mua điện thoại, mua laptop của Lê Văn T, nhưng anh D1, chị X, anh T2 không biết đó là tài sản T phạm tội mà có. Vì vậy cơ quan Điều tra Công an thị xã C không có căn cứ xử lý.

[9] Đối với chủ tài khoản ngân hàng mà Lê Văn Trung chuyển tiền vào ngày 03/6/2024, qua xác minh không biết cụ thể về thông tin của người này nên cơ quan điều tra Công an thị xã C, tỉnh Nghệ An không có căn cứ để xử lý.

[10] Đối với chị Nguyễn Thị H1 là người chủ sở hữu chiếc xe máy biển kiểm soát 37S1 - 13462, nhưng chị H1 không biết T sử dụng chiếc xe đó để thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị Nguyễn Thị H1.

[11] Về vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại Iphone 6S Plus màu bạc mà bị cáo sử dụng để chuyển số tiền do phạm tội mà có vào tài khoản mang ngân hàng V số 1019316632 mang tên Le Chi Nguyen cần tịch thu sung quỹ nhà nước

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, Điều 135, Điều 136, Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[1]. Về tội danh, hình phạt:

- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 04 (Bốn) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/9/2024).

Giao bị cáo Lê Văn T cho UBND phường N, thị xã C, tỉnh Nghệ An giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn T

[2]. Về dân sự: Miễn xét.

[3]. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự: Hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 55/HSST-LCĐKNCT ngày 09/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò đối với bị cáo Lê Văn T.

[4]. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại Iphone 6S Plus màu bạc, có số IMEI: 358595070177875, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, thu giữ của Lê Văn T.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò)

[5]. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND thị xã Cửa Lò;
  • - Chi Cục THADS thị xã Cửa Lò;
  • - CQ Cảnh sát điều tra thị xã Cửa Lò;
  • - Bị cáo, bị hại,
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger