Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST

Ngày 12/6/2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Lê Thị Phương Dung;
  • Ông Kim Niệm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 259/2023/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị D năm 1986; địa chỉ thường trú: Tổ B, ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương có đơn xin vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Tấn N năm 1989; địa chỉ thường trú: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương;

Hiện ông N1 bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B; có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn bà Hoàng Thị D1 bày:

- Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị D2 và ông Lê Tấn N2 sống với nhau từ năm 2006, trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Bình Dương. Cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cải nhau, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, ông N có quan hệ với người phụ nữ khác. Hiện tại ông bà không còn sống chung với nhau. Xét thấy, mâu thuẫn gia đình đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà D xin ly hôn với ông Lê Tấn N4.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 02 con chung là Lê Hoàng Gia B ngày 03/12/2006 và Lê Hoàng T Vsinh ngày 29/5/2008. Các con chung có nguyện vọng sống cùng với bà D3 D đồng ý nuôi con, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai bị đơn ông Lê Tấn N4 trình bày:

- Về hôn nhân: Ông và bà Hoàng Thị D4 sống và tự nguyện kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Bình Dương vào ngày 09/7/2008. Việc chung sống và kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do bà D5 tuông vô cớ, dẫn đến vợ chồng hay cải nhau. Ngày 12/8/2023, ông N5 hành vi cố ý gây thương tích và đang bị tạm giữ tạm giam. Tuy vợ chồng có mâu thuẫn nhưng ông N6 rằng chưa đến mức trầm trọng, có thể hàn gắn được nên ông không đồng ý ly hôn, ông muốn bà D6 ông một cơ hội để hàn gắn vợ chồng cùng nhau nuôi dạy con.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông bà có 02 con chung là Lê Hoàng Gia B ngày 03/12/2006 và Lê Hoàng T Vsinh ngày 29/5/2008. Vì các con đã lớn nên ông N7 trọng quyền quyết định của các con, nếu các con có nguyện vọng được sống cùng với bà D7 ông đồng ý cho bà D8 con, ông không cấp dưỡng nuôi con vì ông đang phải chấp hành án.

- Về tài sản chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Hoàng Thị D2 đối với ông Lê Tấn N4; về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Gia B ngày 03/12/2006 và Lê Hoàng T Vsinh ngày 29/5/2008 cho bà Hoàng Thị D2 trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát về thủ tục tố tụng, về nội dung vụ án HĐXX nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn mà bị đơn cư trú tại ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn bà Hoàng Thị D2 và bị đơn ông Lê Tấn N8 đơn xin xét xử vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị D2 và ông Lê Tấn N4 là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống vợ chồng với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Bình Dương vào ngày 09/7/2008 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu có hạnh phúc nhưng sau đó thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Bị đơn ông N6 rằng mâu thuẫn vợ chồng là do bà D5 tuông vô cớ, ông N6 rằng mâu thuẫn gia đình chưa đến mức trầm trọng, có thể hàn gắn được nên ông không đồng ý ly hôn.

[4] Tại Biên bản xác minh đại diện chính quyền địa phương xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương xác nhận mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thì địa phương không nắm rõ do đương sự không trình báo.

[5] HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn bà Hoàng Thị D2 và bị đơn ông Lê Tấn N4 đã trầm trọng, không còn chung sống với nhau được nữa. Ông N9 đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp để xây dựng gia đình hạnh phúc, hiện tại ông N1 bị tạm giam về hành vi cố ý gây thương tích. Hiện nay, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân với nhau và nguyên đơn không muốn quay về chung sống với bị đơn. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, có căn cứ nên HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, xác định nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Lê Hoàng Gia B ngày 03/12/2006 và Lê Hoàng T Vsinh ngày 29/5/2008. Các con chung có nguyện vọng được sống cùng bà D3 D đồng ý nuôi con nên HĐXX quyết định giao con chung Lê Hoàng Gia B ngày 03/12/2006 và Lê Hoàng T Vsinh ngày 29/5/2008 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Bà D không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX ghi nhận.

[7] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX xem xét chấp nhận.

[9] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 9, 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hoàng Thị D2 đối với bị đơn ông Lê Tấn N4 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

  1. Về hôn nhân: Bà Hoàng Thị D9 ly hôn với ông Lê Tấn N4.
  2. Về con chung: Giao con chung Lê Hoàng Gia B ngày 03/12/2006 và Lê Hoàng T Vsinh ngày 29/5/2008 cho bà Hoàng Thị D2 trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà D về việc không yêu cầu ông N phải cấp dưỡng nuôi con.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung của ông Lê Tấn N4. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.
  2. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Hoàng Thị D10 nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0002852 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Phú Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Phước Hòa, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Khoa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger