Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-

Bản án số:28/2024/HSPT

Ngày 12 tháng 04 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân

Ông Ngô Thế Tương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hòa - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số:36/2024/HSPT ngày 08 tháng 03 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N với bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị N1, sinh ngày 06/12/2000; Nơi thường trú: Thôn Đ, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức B bà Đào Thị N2, có chồng Nguyễn Duy T, bị cáo đang mang thai.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

*Bị hại: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962 (đã chết)

Địa chỉ: Thôn X, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại không kháng cáo:

  • - Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955 (chồng bị hại) - Có mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1984 (con bị hại) - Vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1987 (con bị hại) - Vắng mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1992 (con bị hại) - Vắng mặt.

Đều cư trú tại: Thôn X, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình

Chị T1, chị T2, chị H uỷ quyền cho ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1955 tham gia tố tụng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều tối ngày 23/10/2023, bị cáo Nguyễn Thị N1 không có giấy phép lái xe mô tô điều khiển xe mô tôdo Niềm sở hữu loại Air Blade hiệu Honda, mầu sơn xám, dung tích xi lanh 124,9cm³, biển số 17B5-616.51 từ thị trấn Q, huyện Q đi trên Đường DDT455, hướng xã Q đi xã A, để về nhà ở xã A, huyện Q. Khoảng 18 giờ 05 phút, N1 điều khiển xe tới km 19 + 900 mét, thuộc thôn X, xã A, huyện Q tốc độ khoảng 50 km/h, ở chiều đường bên phải, cách mép đường khoảng 1 mét đến 2 mét. Khi đi qua cầu V khoảng 50 mét, N1 thấy bà Nguyễn Thị L điều khiển xe đạp, dạng xe mini, sơn xanh, đi ở phía trước cùng chiều, cách mép đường bên phải 1,5 mét ở cách đầu xe khoảng 05 đến 07 mét. Niềm bóp phanh tay, đánh lái sang trái để tránh xe của bà L. Do khoảng cách gần nên đầu xe mô tô của N1 đã đâm vào phần đuôi xe đạp của bà L làm xe đạp và bà L bị đẩy ngã, trượt về phía trước, bà L bị ngã tại phần đường bên phải chiều đi. Xe mô tô N1 điều khiển mất lái đi sang chiều đường bên trái lao xuống dưới mương nước sát lề đường. Bà L bị chấn thương sọ não tử vong hồi 19h10 phút cùng ngày, N1 bị thương tích nhẹ ở đầu, vai và cánh tay, xe mô tô thiệt hại trị giá 1.126.667 đồng, xe đạp thiệt hại trị giá 1.403.333 đồng, tổng trị giá tài sản thiệt hại là 2.530.000 đồng.

Sau khi sự việc xảy ra, ngày 30/10/2023 bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 240.000.000 đồng bao gồm các khoản tiền cấp cứu, tiền mai táng, tiền bồi thường tổn thất về tinh thần cho những người thân của bị hại, tiển sửa chữa phương tiện của nạn nhân. Đại diện gia đình bị hại là ông Nguyễn Văn Đ đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm bất cứ khoản tiền nào khác, có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 12/CT-VKSQP ngày 09/01/2024 củaViện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố bị cáo Nguyễn Thị N1 về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án sơ thẩm số 13/2024/HS - ST ngày 01/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị N1 phạm tội: “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Áp dụng pháp luật và hình phạt: Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 260; điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
    • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị N1.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 06/02/2024, bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị N1 vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt, sửa một phần bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị N1.

Bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N1 làm trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội củabị cáo thì thấy: Tại phiên tòabị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội củabị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 05 phút ngày 23/11/2023, tại km số 19 + 900 mét, đường ĐT455 thuộc thôn X, xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Nguyễn Thị N1 không có giấy phép lái xe mô tô nhưng vẫn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Air B, sơn màu xám, dung tích xi lanh 124,9 m³, biển số 17B5-616.51, hướng xã Q đi xã A, không tuân thủ quy định về tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với xe đi phía trước dẫn đến xe mô tô do N1 điều khiển đâm vào sau xe đạp của bà L làm bà L ngã đập đầu xuống đường, chấn thường sọ não vàchết hồi 19 giờ 10 phút cùng ngày”, các phương tiện hư hỏng, thiệt hại tài sản trị giá 2.530.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông. Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi không có giấy phép lái xe nhưng vẫn điều khiển xe mô tô là hành vi nguy hiểm nhưng vẫn thực hiện nên gây hậu quả làm 01 người chết. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo thấy: Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, khi quyết định hình phạt Toà án cấp sơ thẩm đã xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, là phụ nữ có thai, gia đình bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo 02 năm tù (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt)là đúng pháp luật. Tại phiên toà không phát sinh thêm tình tiết nào làm thay đổi tính chất của vụ án nên không có căn cứ giảm hình phạt cho bị cáo.

[4] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo thấy: Bị cáo N1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thể hiện là ngườicó khả năng tự cải tạo, bị cáo là phụ nữ có thai sức khoẻ yếu nên việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội do đó không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hộicũng có khả năng cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, tại phiên toà, đại diện gia đình bị hại đề nghị cho bị cáo hưởng án treo nên Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

[5] Từ các phân tích, đánh giá nêu trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo,sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N1 được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị N1, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2024/HS-ST ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N1 02 (hai) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm 12 tháng 04 năm 2024.
  3. Giao bị cáo Nguyễn Thị N1 cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện Q, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
  4. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thị N3 phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 12 tháng 04 năm 2024.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Duy Luân-Ngô Thế Tương

Nguyễn Thị Thu Hiền

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND, CA h. Quỳnh Phụ;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HSPT ngày 12/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)

  • Số bản án: 28/2024/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Niềm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger