|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 28/2024/HS -ST Ngày 11 - 6 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Cơ - Phó Hiệu trưởng Trường PTTH Mỹ Đức C
- Ông Nguyễn Đại Đồng - Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2024/TLST - HS ngày 05/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST – HS ngày 02 /5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST - QĐ ngày 23/5/2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Thế T, sinh ngày 02/9/2005, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Trần Xuân T2, sinh năm 2003, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Á và bà Nguyễn Thị N1; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 72/2023/HS-ST ngày 15/9/2023, bị Toà án nhân dân huyện Ứng Hoà, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (bị cáo kháng cáo); tại bản án hình sự số 244/2024/HS-PT ngày 28/3/2024 của Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2023. Có mặt.
- Bạch Văn Q, sinh năm 2004, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bạch Văn Q1 và bà Bạch Thị Đ; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/7/2023. Có mặt.
- Vũ Văn M, sinh năm 2004, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H và bà Lê Thị M1; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 39/2024/HS - ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; bị bắt tạm giam từ ngày 25/7/2023. Có mặt.
- Vũ Xuân H1, sinh năm 2003, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn V (đã chết) và bà Bạch Thị P; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 17/7/2023. Có mặt.
- Nguyễn Đức N2, sinh ngày 31/7/2006, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn P, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T3 và bà Đặng Thị M2; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 08/2024/HS – ST ngày 06/02/2024 bị Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xử phạt 18 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam S2 – Bộ C1. Có mặt.
- Nguyễn Hữu T4, sinh ngày 24/10/2005, tại Hà Nội; ĐKHKTT: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu V1 và bà Bùi Thị L; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Thế T: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1984
Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cho bị cáo Nguyễn Đức N2: Bà Đặng Thị M2, sinh năm 1983
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Hữu T4 đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1983
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế T, Bạch Văn Q, Nguyễn Hữu T4: Ông Nguyễn Ngọc C – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức N2, Vũ Xuân H1: Bà Đinh Thị Mai P1 – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T2: Ông Nguyễn Đình D, ông Bùi Văn Đ1 – Luật sư Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H.
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Hữu T5, sinh ngày 06/6/2006
Trú tại: Thôn T, xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Hữu T5: Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1985
- Anh Nguyễn Văn N3, sinh ngày 16/7/2006
Trú tại: Thôn T, xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Văn N3: Bà Dương Thị K, sinh năm 1986
Trú tại: Thôn T, xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Đăng H2, sinh ngày 03/10/2006
Trú tại: Thôn T, xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Đăng H2: Bà Vũ Thị N4, sinh năm 1975
Trú tại: Thôn T, xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Đăng H2: Ông Trịnh Sơn Đ2 – Luật sư, Văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H và ông Trịnh Ngọc S – Chi Hội Luật gia Đoàn Luật sư Thành phố H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Hữu H3, sinh ngày 03/12/2007
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Hữu H3: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1983
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.
- Anh Đoàn Đức L1, sinh ngày 28/7/2008
Trú tại: Thôn V, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Đoàn Đức L1: Bà Vũ Thị T7, sinh năm 1971
Trú tại: Thôn V, xã H, xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Trần Văn L2, sinh ngày 23/8/2007
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Trần Văn L2: Ông Trần Văn T8, sinh năm 1979
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Minh Đ3, sinh ngày 15/12/2007
Trú tại: Thôn D, xã P, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Minh Đ3: Bà Đinh Thị T9, sinh năm 1983
Trú tại: Thôn D, xã P, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Hữu H4, sinh ngày 29/12/2008
Trú tại: Thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Hữu H4: Ông Nguyễn Văn Q2, sinh năm 1985
Trú tại: Thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Lê Tiến Đ4, sinh ngày 05/10/2008
Trú tại: Đ - T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Lê Tiến Đ4: Ông Lê Anh T10, sinh năm 1987
Trú tại: Đ - T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Văn D1, sinh ngày 22/01/2006
Trú tại: Thôn G, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Trần Quốc L3, sinh ngày 5/3/2006
Trú tại: Thôn H, xã Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Văn T11, sinh ngày 16/10/2007
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp cho anh Nguyễn Văn T11: Bà Đặng Thị T12, sinh năm 1968
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Đức T13, sinh ngày 07/9/2005
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Quang D2, sinh năm 2002
Trú tại: Thôn H, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Bùi Đức T14, sinh ngày 21/6/2005
Trú tại: Thôn V, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Lê Gia H5, sinh ngày 07/01//2005
Trú tại: Thôn P, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Đỗ Văn T15, sinh ngày 15/11//2005
Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Văn Q3, sinh ngày 12/5/2006
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Anh Trần Xuân T2, sinh ngày 25/7/2005
Trú tại: Thôn L, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Ông Nguyễn Thế D3, sinh năm 1954 (ông nội bị cáo T)
Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Ông Bạch Văn Q1, sinh năm 1981 (bố đẻ bị cáo Bạch Văn Q)
Trú tại: Thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Ông Vũ Văn H, sinh năm 1983 (bố đẻ bị cáo Vũ Văn M)
Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1982 (mẹ đẻ bị cáo Trần Xuân T2)
Trú tại: Thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội.
- Bà Bạch Thị P, sinh năm 1983 (mẹ đẻ bị cáo Vũ Xuân H1)
Trú tại: Thôn Đ, xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Ông Nguyễn Ngọc C, bà Đinh Thị Mai P1, bà Nguyễn Thị N, bà Đặng Thị M2, bà Bùi Thị L, ông Nguyễn Thế D3, ông Bạch Văn Q1, ông Vũ Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Bạch Thị P có mặt. Ông Nguyễn Đình D, ông Bùi Văn Đ1, anh Nguyễn Hữu T5, bà Nguyễn Thị T6, anh Nguyễn Văn N3, bà Dương Thị K, anh Nguyễn Đăng H2, bà Vũ Thị N4, ông Trịnh Sơn Đ2, ông Trịnh Ngọc S, anh Nguyễn Hữu H3, anh Đoàn Đức L1, bà Vũ Thị T7, anh Trần Văn L2, ông Trần Văn T8, anh Nguyễn Minh Đ3, bà Đinh Thị T9, anh Nguyễn Hữu H4, ông Nguyễn Văn Q2, anh Lê Tiến Đ4, ông Lê Anh T10, anh Nguyễn Văn D1, anh Trần Quốc L3, anh Nguyễn Văn T11, bà Đặng Thị T12, anh Nguyễn Đức T13, anh Nguyễn Quang D2, anh Bùi Đức T14, anh Lê Gia H5, anh Đỗ Văn T15, anh Nguyễn Văn Q3, anh Trần Xuân T2 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 06/3/2023, Nguyễn Quang D2, sinh năm 2002; Nguyễn Hữu H4, sinh ngày 29/12/2008; Trần Xuân T2, sinh năm 2003; Trần Quốc L3, sinh ngày 05/3/2006 cùng trú tại: Xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội; Nguyễn Thế T, sinh ngày 02/9/2005; Lê Tiến Đ4, sinh ngày 05/10/2008 cùng trú tại: Thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội; Nguyễn Hữu T4, sinh ngày 24/10/2005; Nguyễn Hữu H3, sinh ngày 03/12/2007; Vũ Văn M, sinh năm 2004 cùng trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; Bạch Văn Q, sinh năm 2004; Vũ Xuân H1, sinh năm 2004 cùng trú tại: Xã A, huyện M, Thành phố Hà Nội; Nguyễn Đức N2, sinh ngày 31/7/2006; Nguyễn Văn T11, sinh ngày 16/10/2007; Trần Văn L2, sinh ngày 23/8/2007; Nguyễn Văn D1, sinh ngày 22/01/2006; Nguyễn Văn Q3, sinh ngày 12/5/2006 cùng trú tại: Xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội; Đỗ Văn T15, sinh năm 2005, trú tại: Xã Đ, huyện M, Thành H; Nguyễn Minh Đ3, sinh ngày 15/12/2007, trú tại: Xã P, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội; Đoàn Đức L1, sinh ngày 28/7/2008, trú tại: Xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội và đối tượng tên H6 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) rủ nhau đi xe máy, tụ tập tại khu vực đường phát triển thuộc thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội. Đến khoảng 21 giờ, Nguyễn Quang D2 chở Nguyễn Thế T, Trần Xuân T2 chở Vũ Xuân H1, Bạch Văn Q chở Lê Tiến Đ4, Vũ Văn M chở đối tượng tên H6, Nguyễn Hữu H4 đi cùng Vũ Đức H7, sinh năm 2006, trú tại: Xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội, Đoàn Đức L1 chở Trần Văn L2, Đỗ Văn T15 chở Nguyễn Minh Đ3 và Trần Quốc L3, Nguyễn Đức N2 chở Nguyễn Văn T11, Nguyễn Văn D1 chở Nguyễn Văn Q3, Nguyễn Hữu T4 chở Nguyễn Hữu H3 di chuyển bằng xe máy đi từ khu vực đường P, thị trấn Đ, huyện M đi theo đường tỉnh lộ 419 đi xã P. Trên đường đi đến xã P có 04 đối tượng gia nhập nhóm gồm: Bùi Đức T14, sinh ngày 21/6/2005 chở Trần Xuân T2, sinh ngày 25/7/2005; Lê Gia H5, sinh ngày 07/01/2005 chở Nguyễn Đức T13, sinh ngày 07/9/2005, tất cả cùng trú tại: Xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội. Các đối tượng di chuyển đi theo đường liên xã P đi P. Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, khi nhóm đi qua giếng làng thuộc địa phận thôn T, xã P, huyện M thì gặp 4 thanh niên đi trên hai xe máy ngược chiều gồm: Nguyễn Hữu T5 chở Nguyễn Văn N3, Nguyễn Đăng H2 chở Hoàng Đức Minh N5. Thấy nhóm của Nguyễn Đăng H2 đi xe máy theo hướng ngược chiều có tiếng nẹt pô nên Nguyễn Thế T hô lên: “Quay lại chặn bọn kia”. Cả nhóm của T đều quay lại đuổi theo nhóm thanh niên Phùng Xá. Trên đường đuổi theo, Vũ Xuân H1 bảo Trần Xuân T2 dừng xe lại để H1 nhặt chổi ở rệ đường, T2 đồng ý để H1 xuống nhặt chổi. Bạch Văn Q điều khiển xe chở Lê Tiến Đ4 phi lên trước chặn đầu xe nhóm của Nguyễn Đăng H2 trước cổng Trạm y tế xã P. Lúc này Lê Tiến Đ4 dùng thắt lưng da, Bạch Văn Q, Nguyễn Hữu H3, Nguyễn Hữu T4 dùng chân tay không, Trần Văn L2 dùng chổi chít (do L2 nhặt trước cửa một nhà dân ở gần Trạm y tế Phùng Xá) cùng nhau lao vào đánh Nguyễn Văn N3 và Nguyễn Hữu T5. Vũ Văn M lao đến lấy chổi của L2 vụt vào người N3 và T5. Các đối tượng khác gồm: Nguyễn Đức N2, Đoàn Đức L1 và Nguyễn Thế T dùng chân tay không đấm đá H2 và nhóm bạn H2. Vũ Xuân H1 dùng chổi, Nguyễn Hữu H4 lấy chổi của M, Lê Tiến Đ4 và Nguyễn Minh Đ3 dùng gậy ba khúc do Nguyễn Minh Đ3 mang theo đánh vào vùng mặt, đầu, lưng, bụng của Nguyễn Đăng H2 và nhóm bạn của H2. Khi Hoàng gục xuống đường thì nhóm của T dừng lại và lên xe máy đi hướng P đi thị trấn V, huyện Ứ. Do Hoàng Đức Minh N5 bỏ chạy được nên không bị đánh.
Hậu quả: Nguyễn Hữu T5, Nguyễn Văn N3 bị thương phải đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa thị trấn V, huyện Ứ. Nguyễn Đăng H2 đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện M3.
* Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 549/KLTTCT - TTPY 28/4/2023 của Trung tâm P2 - Sở Y kết luận:
- Các kết quả chính: Các chạm thương phần mềm vùng đầu, lưng, tay hai bên, đùi trái không có dấu vết sưng nề bầm tím da, không có sẹo vết thương, không ảnh hưởng đến chức năng: 0%
- Kết luận:
+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Hữu T5 tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 06/3/2023 là: 0% (Không phần trăm).
+ Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Nguyễn Hữu T5 do vật tày gây ra.
* Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 520/KLTTCT - TTPY 24/4/2023 của Trung tâm P2 - Sở Y kết luận:
- Các kết quả chính: Sẹo vết thương trán phải: 03%
- Kết luận:
+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn N3 tại thời điểm giám định trong vụ việc ngày 06/3/2023 là 03% (Ba phần trăm), áp dụng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
+ Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích của anh Nguyễn Văn N3 do vật tày có cạnh gây ra.
* Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 536/KLTTCT - TTPY 26/4/2023 của Trung tâm P2 - Sở Y kết luận:
- Các kết quả chính: Tổn thương mắt trái gây đục thể thủy tinh đã phẫu thuật cắt dịch kính và thay thể thủy tinh: 29%
- Kết luận:
+ Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu Nguyễn Đăng H2 tại thời điểm giám định trong vụ việc là 29% (Hai mươi chín phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
+ Kết luận khác: Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày gây nên.
* Tại bản cáo trạng số 12/CT - VKS - MĐ ngày 03/4/2024 của VKSND huyện Mỹ Đức đã truy tố Nguyễn Thế T, Trần Xuân T2, Bạch Văn Q, Vũ Văn M, Vũ Xuân H1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4 về tội: “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS.
Quá trình tố tụng:
Người bào chữa cho bị cáo Trần Xuân T2: Ông Nguyễn Đình D, ông Bùi Văn Đ1 – Luật sư Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có gửi bản luận cứ bào chữa.
Người đại diện hợp pháp của anh Nguyễn Đăng H2: Bà Vũ Thị N4 có đơn đề nghị không yêu cầu ông Trịnh Sơn Đ2 – Luật sư, Văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H và ông Trịnh Ngọc S – Chi Hội Luật gia Đoàn Luật sư Thành phố H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Đăng H2 nữa.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Đăng H2: Ông Trịnh Sơn Đ2 – Luật sư, Văn phòng L5 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H và ông Trịnh Ngọc S – Chi Hội Luật gia Đoàn Luật sư Thành phố H từ chối bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại anh Nguyễn Đăng H2.
Bị cáo Nguyễn Thế T đã tự nguyện nộp vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) để bồi thường thiệt hại cho bị hại.
Tại phiên toà:
Các bị cáo Nguyễn Thế T, Trần Xuân T2, Bạch Văn Q, Vũ Văn M, Vũ Xuân H1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đều đề nghị Hội đồng xem xét giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.
- Người đại diện hợp pháp và người bào chữa của các bị cáo Nguyễn Thế T, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4, Vũ Xuân H1 đều trình bầy: Các bị cáo phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình đã bồi thường khắc phục hậu quả, tuổi đời còn rất trẻ, đang ở độ tuổi vị thành niên, nên đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 của BLHS xử phạt: Trần Xuân T2 và Vũ Văn M mỗi bị cáo từ 16 đến 20 tháng tù; Bạch Văn Q và Vũ Xuân H1 mỗi bị cáo từ 12 đến 16 tháng tù.
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt: Nguyễn Đức N2 từ 12 đến 16 tháng tù.
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt:
- Nguyễn Thế T từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng.
- Nguyễn Hữu T4 từ 12 đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng.
- - Về trách nhiệm dân sự: Các gia đình bị cáo đã bồi thường theo thỏa thuận cho bị hại, nên không đề nghị Tòa giải quyết.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thế T số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) mà bị cáo Nguyễn Thế T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
Ngoài ra còn đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng: Các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đối với các bị cáo; các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục; không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào không gian, thời gian, điều kiện, hoàn cảnh, nguyên nhân, diễn biến hành vi; căn cứ lời khai nhận của các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; sơ đồ hiện trường; kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ, có đủ căn cứ để khẳng định: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 06/3/2023 tại khu vực Trạm y tế xã P, huyện M, Thành phố Hà Nội Nguyễn Thế T, Trần Xuân T2, Bạch Văn Q, Vũ Văn M, Vũ Xuân H1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4, Nguyễn Hữu H3, Đoàn Đức L1, Trần Văn L2, Nguyễn Minh Đ3, Nguyễn Hữu H4, Lê Tiến Đ4 đã cùng nhau dùng hung khí nguy hiểm là chổi, thắt lưng, gậy ba khúc gây thương tích cho anh Nguyễn Văn N3, với tỷ lệ thương tích 3%. Anh Nguyễn Đăng H2, với tỷ lệ thương tích 29%. Xét thấy, việc VKSND huyện Mỹ Đức truy tố các bị cáo Nguyễn Thế T, Trần Xuân T2, Bạch Văn Q, Vũ Văn M, Vũ Xuân H1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi không chỉ trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác mà còn làm mất trật tự trị an ở địa phương, gây hoang mang tư tưởng trong quần chúng nhân dân, đòi hỏi phải xử phạt bị cáo bằng pháp luật hình sự với mức hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả mà bị cáo đã gây ra.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn trong đó:
Nguyễn Thế T là người khởi xướng, hô hào mọi người quay lại, dùng chân, tay không để đánh nhóm của H2, nên xếp ở vị trí thứ nhất.
Vũ Văn M là người trực tiếp dùng cán chối đánh vào nhóm của H2 nên xếp ở vị trí thứ 2.
Trần Xuân T2 chở Vũ Xuân H1, Bạch Văn Q chở Lê Tiến Đ4; Vũ Xuân H1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4 dùng chân tay không đấm, đá vào nhóm của H2, nên xếp ở vị trí thứ ba và thứ tư.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Thế T, Bạch Văn Q, Vũ Xuân H1, Nguyễn Hữu T4 đều phạm tội lần đầu; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; tác động đến gia đình để bồi thường cho bị hại; các bị cáo Nguyễn Thế T, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4 khi phạm tội dưới 18 tuổi; bị cáo Vũ Xuân H1 bị nhiễm HIV và thuộc diện hộ cận nghèo; bị cáo Bạch Văn Q thuộc diện hộ cận nghèo và có ông nội có công với cách mạng; bị cáo Nguyễn Đức N2 có ông ngoại có công với cách mạng; bị hại xin giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo; là các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của BLHS mà giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Đối với các bị cáo Nguyễn Thế T, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4 khi phạm tội dưới 18 tuổi (vị thành niên), nên được hưởng mức hình phạt 3/4 người đã thành niên phạm tội.
Đối với bị cáo Nguyễn Đức Nguyên d đang phải chấp hành một bản án đã có hiệu lực pháp luật. Trần Xuân T2, Vũ Văn M có một bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên buộc cả ba bị cáo này phải chịu mức hình phạt đang bị xét xử và bị tổng hợp hình phạt của bản đã có hiệu lực pháp luật.
Xét các bị cáo Vũ Văn M, Trần Xuân T2, Nguyễn Đức N2, Bạch Văn Q, Vũ Xuân H1 đều thực hiện tội phạm tích cực, hơn nữa bị cáo M, T2, N2 đều có nhân thân xấu. Bởi vậy cần cách ly các bị cáo này ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục cải tạo bị cáo trở về con đường lương thiện cũng là để làm gương cho người khác.
Xét các bị cáo Nguyễn Thế T, Nguyễn Hữu T4 là người dưới 18 tuổi. Hội đồng xét xử đối chiếu Nghị quyết số 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo Nguyễn Thế T, Nguyễn Hữu T4 đủ điều kiện xem xét được hưởng án treo theo Điều 65 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, có tác dụng giáo dục đồng thời thể hiện sự nhân văn của pháp luật đối với người phạm tội.
Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1, khoản 2 Điều 51, nên áp dụng Điều 54 của BLHS mà giảm nhẹ dưới mức thấp của khung hình phạt cho các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Các gia đình bị cáo đã tự thỏa thuận bồi thường cho bị hại Nguyễn Đăng H2 tổng số tiền 84.000.000 đồng và không có đề nghị gì khác; các bị hại Nguyễn Hữu T5, Nguyễn Văn N3 không yêu cầu bồi thường, nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Do trong vụ án có nhiều người gây thương tích cho bị hại anh Nguyễn Đăng H2, nhưng các gia đình bị cáo đã bồi thường dứt điểm cho bị hại anh H2, nên phần bồi hoàn lại cho gia đình các bị cáo với những người gây thương tích cho anh H2 sẽ được giải quyết trong vụ án khác, giành quyền khởi kiện về bồi hoàn lại cho gia đình các bị cáo, nếu các gia đình bị cáo có yêu cầu.
Đối với số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) mà bị cáo Nguyễn Thế T đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức để bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do các gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại đã xong, nên trả lại cho bị cáo T 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) mà bị cáo đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.
Đối với Nguyễn Hữu H3, sinh ngày 03/2/2007; Đoàn Đức L1, sinh ngày 28/7/2008; Trần Văn L2, sinh ngày 23/8/2007; Nguyễn Minh Đ3, sinh ngày 15/12/2007; Nguyễn Hữu H4, sinh ngày 29/12/2008; Lê Tiến Đ4, sinh ngày 05/10/2008 có hành vi Cố ý gây thương tích cho H2 và N3. Tuy nhiên tại thời điểm xảy ra sự việc thì các đối tượng này chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự. Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a, khoản 5 Điều 7 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ đối với các đối tượng này là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Nguyễn Văn D1, sinh ngày 22/01/2006, Trần Quốc L3, sinh ngày 5/3/2006, Nguyễn Văn T11, sinh ngày 16/10/2007, Nguyễn Đức T13, sinh ngày 07/9/2005, Nguyễn Quang D2, sinh năm 2002, Bùi Đức T14, sinh ngày 21/6/2005, Lê Gia H5, sinh ngày 07/01/2005, Đỗ Văn T15, sinh ngày 15/11//2005, Nguyễn Văn Q3, sinh ngày 12/5/2006, Trần Xuân T2, sinh ngày 25/7/2005 không tham gia vào việc gây thương tích cho H2 và N3 nhưng có hành vi không đội mũ bảo hiểm, lạng lách, đánh võng, bóp còi, rú ga khi tham gia giao thông, nên Công an huyện M không xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự mà Quyết định xử phạt vi phạm vi phạm hành chính về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ đối với các đối tượng này là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngoài ra buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thế T, Trần Xuân T2, Bạch Văn Q, Vũ Văn M, Vũ Xuân H1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4 phạm tội “Cố ý gây thương tích".
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 của BLHS xử phạt:
+ Vũ Văn M 18 (Mười tám) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.
Áp dụng Điều 56 của BLHS, tổng hình phạt 06 (S1) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại bản án số 39/2024/HS - ST ngày 17/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Vũ Văn M phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.
+ Trần Xuân T2 15 (Mười lăm) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.
Áp dụng Điều 56 của BLHS, tổng hình phạt 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng tại bản án số 244/2024/HS - PT ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Trần Xuân T2 phải chấp hành hình phạt chung cả hai bản án là 39 (Ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2023. Được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 30/10/2022 đến ngày 05/11/2022 (Bản án số: 244/2024/HS - PT ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội).
+ B (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/7/2023, về tội Cố ý gây thương tích.
+ Vũ Xuân H1 14 (Mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/7/2023, về tội Cố ý gây thương tích.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt:
Nguyễn Đức N2 13 (Mười ba) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích.
Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 18 (Mười tám) tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng, tại bản án số 08/2024/HS – ST ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Nguyễn Đức N2 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 31 (Ba mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 31/7/2023 (ngày tạm giữ, tạm giam của bản án số 08/2024/HS - ST ngày 06/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội).
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65; Điều 90; Điều 91; Điều 101 của Bộ luật hình sự xử phạt:
+ Nguyễn Thế T 18 (Mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án, về tội Cố ý gây thương tích.
+ Nguyễn Hữu T4 12 (Mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án, về tội Cố ý gây thương tích.
Giao bị cáo Nguyễn Thế T cho UBND thị trấn Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Hữu T4 cho UBND xã H, huyện Ứ, Thành phố Hà Nội kết hợp cùng gia đình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS; Điều 106 của BLTTHS năm 2015: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thế T 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng), tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức, theo biên thu tiền số 0007648 ngày 10/4/2024.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Thế T, Trần Xuân T2, Bạch Văn Q, Vũ Văn M, Vũ Xuân H1, Nguyễn Đức N2, Nguyễn Hữu T4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lã Phi Hùng |
Nơi nhận;
- - Trung tâm Lý lịch tư pháp TW - Bộ tư pháp;
- - TAND Thành phố Hà Nội;
- - VKSND huyện Mỹ Đức;
- - Công an huyện Mỹ Đức;
- - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
- - UBND thị trấn Đại Nghĩa;
- - UBND xã An Tiến;
- - UBND xã An Phú;
- - UBND xã Hòa Nam;
- - UBND xã Hợp Tiến;
- - Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo;
- - Người đại diện hợp pháp cho bị cáo;
- - Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
- - Lưu HS, VT;
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
Bản án số 28/2024/HS -ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 28/2024/HS -ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế T cùng ĐP - cố ý gây thương tích
