Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

***

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

***

Bản án số: 28/2024/DS-ST

Ngày: 10-5-2024

V/v tranh chấp dân sự

về hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hoàng Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Nguyễn Văn Minh.
  • Ông Tô Phú Mỹ.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Bích Vân - Thư ký TAND Tp. Sa Đéc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2023, về việc “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2024, Quyết định Hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa số: 17/2024/QĐST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Trịnh Hoài T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số B, ĐT H, ấp P, xã T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Lý Phúc D, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Số B, Rạch C, Khóm B, Phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:

Luật sư Bùi Văn K thuộc Đoàn luật sư Thành phố H.

Là Trưởng Chi nhánh của Công ty L - Chi nhánh V. Địa chỉ: Số A, Khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

Tại phiên tòa: Anh T và Luật sư có mặt. Anh D có đơn xin vắng.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn - anh Trịnh Hoài T trình bày:

Anh Trịnh Hoài T và anh Lý Phúc D là bạn bè, cùng tham gia Hội doanh nhân trẻ thành phố S.

Ngày 08/02/2023, anh T có cho anh D vay số tiền 550.000.000đ, lãi suất thỏa thuận 5.000đ/1.000.000đ/ngày, thời hạn vay 10 ngày, mục đích để đáo hạn Ngân hàng; khi vay, anh D có viết “Hợp đồng vay tiền”.

Do không trả nợ đúng hạn nên ngày 19/4/2023, anh D viết giấy xác nhận nợ anh T tổng cộng 650.000.000đ bao gồm 550.000.000đ vốn vay ngày 08/02/2023 và 100.000.000đ tiền lãi; ấn định đến ngày 30/4/2023 sẽ trả hết nợ.

Sau đó, anh D tiếp tục hứa hẹn nhiều lần nhưng không trả nợ. Đến ngày 08/6/2023, anh D viết giấy mượn tiền để xác nhận còn nợ anh T tổng cộng là 785.000.000đ bao gồm 650.000.000đ đã xác nhận nợ ngày 19/4/2023 và tự nguyện trả 135.000.000đ cho chậm trả nợ.

Vì anh D không trả nợ nên anh T gửi đơn tố cáo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S để yêu cầu giải quyết. Sau đó, ngày 06/11/2023, anh D viết “Tờ cam kết” xác nhận nợ anh T tổng số tiền 785.000.000đ và cam kết sẽ trả hết nợ trong 04 lần vào các ngày 05/12/2023, 04/02/2024, 03/5/2024 và 30/7/2024. Tuy nhiên, anh D không thực hiện như nội dung đã cam kết nên anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa: Anh T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu. Anh T chỉ yêu cầu anh D trả số tiền vốn vay 550.000.000đ; không yêu cầu trả lãi.

Ngoài ra, anh T không có yêu cầu gì khác.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Lý Phúc D có văn bản ý kiến:

Anh D thừa nhận ngày 08/02/2023, anh có vay của anh Trịnh Hoài T số tiền 550.000.000đ. Do không có khả năng trả nợ nên anh viết giấy mượn tiền xác nhận số tiền nợ anh T là 785.000.000đ; đến ngày 06/11/2023, anh D viết Tờ cam kết trả cho anh T số tiền 785.000.000đ. Đồng thời, sau khi vay, anh D có chuyển khoản trả cho anh T 120.000.000đ.

Vì vậy, anh D chỉ đồng ý trả cho anh T số tiền còn nợ là 430.000.000đ.

Ngoài ra, anh D không có yêu cầu gì khác.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Thực tế, anh D chỉ vay của anh T số tiền 550.000.000đ; sau khi vay, anh D đã trả 120.000.000đ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của bị đơn: Anh D chỉ đồng ý trả cho anh T số tiền còn nợ là 430.000.000đ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc phát biểu ý kiến:

3

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Buộc anh Lý Phúc D trả cho anh Trịnh Hoài T số tiền vốn vay 550.000.000đ. Về án phí giải quyết theo quy định của pháp luật (có văn bản phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1]. Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ vay; xác định quan hệ pháp luật là “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản”; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
    2. [1.2]. Tại phiên tòa: Bị đơn có đơn đề nghị vắng mặt; căn cứ Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
  2. [2]. Về nội dung vụ án:

    Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả vốn vay 550.000.000đ, không yêu cầu trả lãi, Hội đồng xét xử xét thấy:

    1. [2.1]. Các bên đương sự đều thừa nhận: Ngày 08/02/2023, anh Trịnh Hoài T có cho anh Lý Phúc D vay số tiền 550.000.000đ nên căn cứ khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, tình tiết này không phải chứng minh.
    2. [2.2] Nguyên đơn xác định: Quá trình vay, bị đơn có chuyển khoản trả lãi cho nguyên đơn tổng số tiền 88.000.000đ. Sau đó, vào ngày 19/4/2023, bị đơn viết giấy xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 650.000.000đ và đến ngày 08/6/2023, bị đơn tiếp tục xác nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 785.000.000đ; đến nay chưa trả nợ. Tuy nhiên, tại phiên tòa: Nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả số tiền vốn vay 550.000.000đ; không yêu cầu trả lãi.
    3. [2.3]. Bị đơn trình bày: Sau khi vay, có chuyển khoản trả cho nguyên đơn số tiền 120.000.000đ nên chỉ đồng ý trả số tiền còn nợ 430.000.000đ. Tuy nhiên, lời trình bày của bị đơn không có chứng cứ gì để chứng minh. Trong khi đó, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả vốn vay 550.000.000đ và không yêu cầu trả lãi là có lợi cho bị đơn.
    4. [2.4]. Như vậy, căn cứ Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền 550.000.000đ là có căn cứ chấp nhận.

4

  1. [2.5]. Đối với ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là chưa phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
  2. [3]. Qua ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật; đúng tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
  3. [4]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; các điều 91, 92 và 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 357, 463, 466 và 688 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ vay.
  2. Buộc anh Lý Phúc D trả cho anh Trịnh Hoài T số tiền 550.000.000đ (bằng chữ: Năm trăm năm mươi triệu đồng).
  3. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    - Anh Lý Phúc D chịu 26.000.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

    - Hoàn trả lại cho anh Trịnh Hoài T số tiền tạm ứng án phí 17.700.000đ đã nộp theo biên lai số 0003799 ngày 23/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong

5

thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Sa Đéc;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Chi cục THA dân sự Tp. Sa Đéc;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hoàng Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 28/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh T yêu cầu anh D trả nợ vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger