Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN ĐỘNG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST

Ngày 09-09-2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Ngát, ông Phạm Xuân Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Khiết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 21/8/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Đặng Thị N, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Anh Triệu Phúc T, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Đặng Thị N trình bày: Chị kết hôn với anh Triệu Phúc T vào năm 2014, trước khi kết hôn chị và anh T có được tự do tìm hiểu, tự nguyện đi đến cuộc sống chung vợ chồng. Vợ chồng có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện S vào ngày 11/3/2014 và có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán tại địa phương. Sau ngày cưới chị về nhà anh T làm dâu, chung sống cùng gia đình chồng được 1 năm thì vợ chồng ra ở riêng.

Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng về quan điểm sống, lối sống, không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Chị và anh T đã sống ly thân nhau từ tháng 6/2023 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể hàn gắn được. Chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị và anh T được ly hôn.

Về con chung, chị và anh T có 02 con chung, con lớn là Triệu Kim T1, sinh ngày 03/6/2015, con nhỏ là Triệu Quý N1, sinh ngày 18/7/2022. Hiện nay hai cháu đang ở cùng chị. Vợ chồng ly hôn, chị có nguyện vọng được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung. Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Công việc của chị là làm nông nghiệp, mức thu nhập bình quân hàng tháng là từ 5.000.000₫ đến 6.000.000đ. Chị đảm bảo đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung không có, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tài liệu, chứng cứ chị N giao nộp cho Tòa án gồm: 01 bản gốc Giấy chứng nhận kết hôn, 01 bản sao Căn cước công dân, 02 bản sao Giấy khai sinh của con.

Bị đơn là anh Triệu Phúc T có nơi đăng ký thường trú tại thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang nhưng anh T thường xuyên đi làm vắng nhà. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cho anh T nhưng anh T không cung cấp ý kiến bằng văn bản, cũng không chấp hành giấy triệu tập đến Tòa án làm việc. Do vậy, Tòa án không thu thập được ý kiến, lời khai của anh T.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn, bị đơn đều vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:

Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng; nguyên đơn chấp hành tốt và thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định. Anh T2 phúc T là bị đơn không cung cấp lời khai, không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án. Tòa án đã triệu tập hợp lệ phiên tòa lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự của phiên tòa sơ thẩm.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử cho ly hôn giữa Đặng Thị N và anh Triệu Phúc T, giao cả hai con chung là cháu Triệu Kim T1, sinh ngày 03/6/2015 và cháu Triệu Quý N1, sinh ngày 18/7/2022 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, anh T không phải cấp dưỡng nuôi con; không đặt ra xem xét, giải quyết quan hệ về tài sản; chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Đặng Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với bị đơn anh Triệu Phúc T, có địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Sơn Động thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Anh Triệu Phúc T có nơi cư trú rõ ràng, nhưng anh T thường xuyên vắng nhà, cố tình giấu địa chỉ; Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng thông báo cho anh T. Do anh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh T theo quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị N và anh Triệu Phúc T kết hôn với nhau tuân theo các điều kiện kết hôn quy định tại Điều 8 – Luật Hôn nhân và gia đình, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S vào ngày 11/3/2014. Quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh T là hợp pháp.

Chị N yêu cầu ly hôn anh T với lý do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm, lối sống, bảo ban không ai nghe ai dẫn đến cãi chửi nhau, chị xác định vợ chồng đã ly thân nhau từ tháng 6 năm 2023 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn. Mặc dù Tòa án không lấy được lời khai của anh T, nhưng căn cứ vào lời khai của chị N, kết quả xác minh tại địa phương, có đủ cơ sở khẳng định chị N và anh T đều vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của người chồng, người vợ là thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và nghĩa vụ chung sống với nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được; Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N là đúng quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Chị N và anh T có 02 con chung, con lớn là Triệu Kim T1, sinh ngày 03/6/2015, con nhỏ là Triệu Quý N1, sinh ngày 18/7/2022. Hiện nay hai cháu đang ở cùng chị N. Vợ chồng ly hôn, chị N có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi chị N, anh T sống ly thân, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu T1, cháu N1; cháu T1 có nguyện vọng được ở cùng chị N, cháu N1 còn nhỏ (dưới

36 tháng tuổi) cần có sự chăm sóc của người mẹ; chị N có công việc cho thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi con. Anh T thường xuyên vắng nhà, hiện chưa xác định được công việc, mức thu nhập của anh T. Kết quả xác minh tại địa phương xác định việc giao các con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng sẽ đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các cháu. Do vậy, cần giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Triệu Kim T1 và cháu Triệu Quý N1 là phù hợp với quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Anh T được quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4] Về án phí: Chị Đặng Thị N yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 1, Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 6 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đặng Thị N và anh Triệu Phúc T.
  2. Về con chung:
  3. Giao cho chị Đặng Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là cháu Triệu Kim T1, sinh ngày 03/6/2015 và cháu Triệu Quý N1, sinh ngày 18/7/2022;

    Anh Triệu Phúc T không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Anh Triệu Phúc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  4. Về án phí:
  5. Chị Đặng Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0008588 ngày 12/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động; chị N không phải nộp án phí nữa.

Đương sự vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

* Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự
  • - VKSND huyện SĐ
  • - VKSND tỉnh BG
  • - TAND tỉnh BG
  • - UBND xã Tuấn Đạo
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 09/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị nảy anh Thành kết hôn, quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, chị Nảy xin ly hôn. Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Nảy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger