Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày 09-7-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Quốc Sử;
  • 2. Ông Trần Duy Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự (điểm cầu Trung tâm) và Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần), tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Hồ Minh N (tên gọi khác: H), sinh ngày 17/11/2003 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hồ Văn T, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Mai L, sinh năm 1984; vợ, con: Chưa có; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền sự: Chưa có; tiền án: Ngày 10/3/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/7/2023; nhân thân: Ngày 25/11/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/8/2021; tạm giữ: Ngày 22/4/2024; tạm giam: Từ ngày 25/4/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2

- Bị hại: Trường mầm non B.

Địa chỉ: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Hồ Thanh T1 – Chức vụ: Hiệu trưởng.

Địa chỉ: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Trần Mai T2, sinh năm 1981 (có đơn xét xử vắng mặt);

Nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1. Đặng Văn L1, sinh ngày 08/02/1969 (vắng mặt);
  • Nơi cư trú: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
  • 2. Đỗ Văn N1, sinh ngày 01/01/1963 (vắng mặt);
  • Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng: Nguyễn Thị G, sinh năm 1994 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.

Tại điểm cầu trung tâm, gồm có: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa.

Tại điểm cầu thành phần, gồm có: Bị cáo Hồ Minh N; cán bộ hỗ trợ tư pháp: Đồng chí Lê Trung H1 và Đinh Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Minh N có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án Nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 09 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/7/2023. Do muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên N tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 21/4/2024, Hồ Minh N đi bộ từ nhà đến điểm Trường tiểu học B, thuộc ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 23 giờ 00 phút, cùng ngày thì N đột nhập vào bên trong khuôn viên trường tìm tài sản nhưng không thấy. Sau đó đến khoảng 23 giờ 10 phút, cùng ngày Hồ Minh N đến Trường mầm non B, thuộc ấp B, xã B, thành phố H, quan sát thấy bên trong trường không có người trông coi nên leo rào vào bên trong khuôn viên trường, N nhặt lấy một đoạn thanh sắt gần đó cái khoen khóa cửa phòng 25- 36 tháng và phòng M, lấy 01 (một) tivi nhãn hiệu SAMSUNG 65 inch, màu đen và 01 (một) tivi nhãn hiệu SONY 32 inch, màu đen, mang ra trước

3

cửa phòng học. N lấy 01 (một) cái tivi, hiệu SONY, 32 inch, leo hàng rào ra ngoài tẩu thoát khỏi hiện trường, đi bộ đến nhà của anh Đỗ Văn N1, sinh năm 1963, ngụ khóm C, phường A, thành phố H gửi tivi vừa lấy trộm.

Sau khi bị mất trộm tài sản, bà Nguyễn Trần Mai T2 là giáo viên của nhà trường đến Công an xã B, thành phố H trình báo sự việc. Cơ quan Công an mời Hồ Minh N làm việc và N đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản.

Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) cái tivi, hiệu SONY, 32 inch và 01 (một) cái tivi, hiệu SAMSUNG, 65 inch đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động IPHONE màu vàng GOLD, đã qua sử dụng; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu OMEGA màu vàng trắng, đã qua sử dụng; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu DOUKOU màu xanh đen, đã qua sử dụng; 01 (một) cái nón kết, màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) quần Jean dài, màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo sơ mi dài tay, màu sọc trắng đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu đỏ đen, đã qua sử dụng; 01 (một) túi đeo chéo hiệu FASHION, màu đen, đã qua sử dụng.

Kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐĐG ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: Giá trị 01 (một) tivi hiệu SONY màu đen, màn hình 32 inch, đã qua sử dụng là 2.500.000 đồng; giá trị 01 (một) tivi hiệu SAMSUNG màu đen, màn hình 65 inch, đã qua sử dụng là 11.400.000 đồng.

Vật chứng thu giữ, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho đại diện hợp pháp của Trường mầm non B là chị Nguyễn Trần Mai T2: 01 (một) cái tivi, hiệu SONY, 32 inch và 01 (một) cái tivi, hiệu SAMSUNG, 65 inch.

- Về trách nhiệm dân sự: đại diện hợp pháp của bị hại Trường mầm non B là Nguyễn Trần Mai T2 không yêu cầu về mặt dân sự đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra, Hồ Minh N đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKSTPHN, ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Hồ Minh N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Hồ Minh N đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hồ Minh N về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1,

4

khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Minh N mức hình phạt từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Đối với việc Hồ Minh N lấy trộm 01 (một) tivi, hiệu SONY màu đen, màn hình 32 inch gửi cho anh Đỗ Văn N1. Qua điều tra thể hiện anh N1 không biết tài sản trên do N lấy trộm của người khác nên không xem xét xử lý Đỗ Văn N1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, do đó không để nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho đại diện hợp pháp của Trường mầm non B là chị Nguyễn Trần Mai T2: 01 (một) cái Tivi, hiệu SONY, 32 inch và 01 (một) cái Tivi, hiệu SAMSUNG, 65 inch. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Căn cứ Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Trả lại cho bị cáo Hồ Minh N: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; 01 (một) điện thoại di động IPHONE màu vàng GOLD; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu OMEGA màu vàng trắng; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu DOUKOU màu xanh đen; 01 (một) cái nón kết, màu đen đã qua sử dụng, 01 (một) quần Jean dài, màu đen; 01 áo sơ mi dài tay, màu sọc trắng đỏ đen; 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu đỏ đen, 01 (một) túi đeo chéo hiệu FASHION, màu đen vì các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại Trường mầm non B là Nguyễn Trần Mai T2 không yêu cầu về mặt dân sự đối với bị cáo nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Minh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

5

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Minh N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, bản thân bị cáo đang có 01 tiền án, ngày 10/3/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 01 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/7/2023. Do không có nghề nghiệp, nhưng lại muốn nhanh có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo đã tiếp tục đi vào con đường phạm tội. Cụ thể, khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 21/4/2024 tại ấp B, xã B, thành phố H, N đã lén lút lấy trộm 01 (một) tivi hiệu SONY màu đen, màn hình 32 inch với giá trị tài sản là 2.500.000 đồng và 01 (một) tivi hiệu SAMSUNG màu đen, màn hình 65 inch của Trường mầm non B nhằm mục đích đem đi bán để lấy tiền tiêu xài thì bị phát hiện, Cơ quan Công an mời làm việc thì N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐĐG ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H, kết luận: Giá trị 01 (một) tivi hiệu SONY màu đen, màn hình 32 inch, đã qua sử dụng là 2.500.000 đồng; giá trị 01 (một) tivi hiệu SAMSUNG màu đen, màn hình 65 inch, đã qua sử dụng là 11.400.000 đồng.

Căn cứ vào lời thừa nhận của bị cáo; lời khai của đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Hồ Minh N đã phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

6

Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt tù nhiều lần về tội “Trộm cắp tài sản”. Đáng ra, qua các lần bị xét xử trên, bị cáo phải biết suy ngẫm lại hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải, ra sức lao động để tìm cho mình một việc làm hợp pháp để có thu nhập chính đáng từ công sức lao động của mình, nhưng bị cáo không làm được điều đó mà ngược lại do không chí thú làm ăn, lại muốn nhanh có tiền tiêu xài, bị cáo đã tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo thuộc diện gia đình có công cách mạng (có ông bà nội tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng thường Huân chương, Huy chương). Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với bị cáo.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc hơn mức hình phạt đã xét xử bị cáo trước đây, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

7

[6] Đối với việc Hồ Minh N lấy trộm 01 (một) tivi, hiệu SONY màu đen, màn hình 32 inch gửi cho Đỗ Văn N1. Qua điều tra thể hiện N1 không biết tài sản trên do N lấy trộm của người khác nên không xem xét xử lý Đỗ Văn N1 về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[7] Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho đại diện hợp pháp của Trường mầm non B là chị Nguyễn Trần Mai T2: 01 (một) cái tivi, hiệu SONY, 32 inch và 01 (một) cái tivi, hiệu SAMSUNG, 65 inch. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; 01 (một) điện thoại di động IPHONE màu vàng GOLD; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu OMEGA màu vàng trắng; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu DOUKOU màu xanh đen; 01 (một) cái nón kết, màu đen đã qua sử dụng, 01 (một) quần Jean dài, màu đen; 01 áo sơ mi dài tay, màu sọc trắng đỏ đen; 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu đỏ đen, 01 (một) túi đeo chéo hiệu FASHION, các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo là phù hợp với pháp luật.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra, bị hại Trường mầm non B đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu về mặt dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

8

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hồ Minh N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Hồ Minh N 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ: Ngày 22/4/2024.

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Trả lại cho bị cáo Hồ Minh N: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; 01 (một) điện thoại di động IPHONE màu vàng GOLD; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu OMEGA màu vàng trắng; 01 (một) đồng hồ đeo tay nhãn hiệu DOUKOU màu xanh đen; 01 (một) cái nón kết, màu đen đã qua sử dụng, 01 (một) quần Jean dài, màu đen; 01 áo sơ mi dài tay, màu sọc trắng đỏ đen; 01 (một) đôi dép quai kẹp, màu đỏ đen, 01 (một) túi đeo chéo hiệu FASHION, màu đen.

(Vật chứng trên hiện Chi Cục thi hành án Dân sự thành phố Hồng Ngự đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/6/2024).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hồ Minh N phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/7/2024). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Hồng Ngự;
  • - Nhà tạm giữ Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Cơ quan điều tra Công an TP. Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger