|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày 09-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngà
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Lượng
Bà Khúc Thị Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/HSST-QĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Đồng Thị T, sinh ngày 06/5/1968 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Duy C và bà Bùi Thị U; có chồng là Bùi Văn T1 và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Không có. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 08/11/2023; có mặt.
- Bị hại: Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Bùi Thị H, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2017, bà Ngô Thị H1, sinh năm 1975 và ông Đồng Duy S, sinh năm 1972, cùng trú tại thôn C, xã T kết hôn với nhau; trước khi kết hôn bà H1 có con riêng là chị Phạm Thị T2, sinh năm 1994, ông S có con riêng là anh Đồng Duy L, sinh năm 1998, đều ở thôn C, xã T. Thời gian tháng 8/2023, bà H1 và ông S đang được tòa án giải quyết ly hôn nên hai bên gia đình xảy ra mâu thuẫn. Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/9/2023, anh Đồng Duy L đang giao gạo cho bà Phạm Thị C1, sinh năm 1963, ở thôn E, xã T thì bà Ngô Thị H1 đến ngăn cản vì cho rằng anh L tranh mối hàng nên hai bên dùng chổi xô xát, cãi chửi nhau, anh L bị ngã; hậu quả anh L bị thương trật khớp vai phải được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H3.
Khoảng 19 giờ cùng ngày, nghe tin bà H1 đánh gẫy tay cháu nội là anh L nên cụ Đồng Duy C, sinh năm 1942, trú tại thôn C, xã T cầm 01 tuýp sắt hình trụ tròn dài 65cm, đường kính 2,1cm, nhặt ở lề đường gần nhà, sang nhà bà H1 cãi chửi nhau, xô xát với bà H1 và chị T2. Đồng Thị T là con gái cụ C, đi theo can ngăn nhưng sau đó thấy chị T2 và cụ C chửi bới, giằng co nhau nên bực tức, Đồng Thị T dùng tay phải giằng tuýp sắt từ tay cụ C để đánh về phía chị T2, thanh sắt vụt trúng vào đầu chị T2 01 nhát, gây thương tích chảy máu, tuýp sắt rơi xuống nền nhà. Lúc này, các con cụ C là bà Đồng Thị L1, sinh năm 1974 và bà Phạm Thị H2, sinh năm 1984, cùng trú tại thôn C, xã T đến can ngăn; bà H2 nhặt tuýp sắt định vứt ra ngoài thì bị chị T2 giằng lấy nên hai bên giằng co nhau. Thấy vậy, Đồng Thị T lao vào giằng lấy tuýp sắt; đồng thời bà H1 lấy 01 tuýp sắt khác hình vuông dài khoảng 80cm dưới nền nhà vụt vào vai phải Đồng Thị T, nhưng không bị thương tích nên hai bên dừng lại. Tiếp đó, cụ C nhặt 01 tuýp sắt mà cụ cầm sang lúc trước ở dưới nền nhà vụt 01 nhát vào mạn sườn bà H1, thì được anh Bùi Phú M, sinh năm 1990, trú tại thôn C, xã T là chồng chị T2 vào can ngăn giằng tuýp sắt từ tay cụ C cất đi. Sau đó cụ C dùng tay túm tóc, đánh nhiều nhát vào người bà H1, được mọi người can ngăn và đưa chị T2 đi cấp cứu, tất cả ra về.
Cùng ngày nhận được tin báo của hai bên gia đình, Công an xã T tiến hành thu giữ 01 chiếc chổi nhựa màu hồng có tay cầm bằng inox rỗng sáng màu dài 113cm và 01 chiếc chổi có tay cầm bằng nhựa màu xanh dài 72cm, tại cửa hàng gạo bà C1; thu giữ 01 tuýp sắt hình trụ tròn dài 65cm, đường kính 2,1cm tại nhà bà H1.
Ngày 25/10/2023 chị Phạm Thị T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 693 ngày 06/10/2023 của Trung tâm P: Chị Phạm Thị T2 bị tổn thương cơ thể do sẹo vết thương vùng đỉnh đầu gây nên là 02%; do tổn thương chấn động não, Glasgow 14 điểm, đã điều trị ổn định nạn nhân còn đau đầu, chóng mặt, điện não đồ chưa thấy bất thường gây nên là: 02%. Tổng tỷ lệ phầm trăm tổn thương là 04%. Các thương tích do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
2
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 694 ngày 06/10/2023 của Trung tâm P: Bà Ngô Thị H1 bị tổn thương sang chấn sọ đã ổn định, toàn thân không thấy dấu vết thương tích, không tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 742 ngày 24/10/2023 của Trung tâm P: Anh Đồng Duy L bị trật khớp vai phải đã được nắn lại khớp vai và điều trị thuốc tạm thời ổn định nhưng còn hạn chế nhẹ (ít) động tác đưa cánh tay lên trên và cánh - cẳng - bàn tay ra sau (hạn chế 2/7 động tác), tổn thương 12%. Các thương tích trên do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại giai đoạn điều tra và truy tố, chị Phạm Thị T2 yêu cầu bị cáo Đồng Thị T bồi thường 100.000.000đồng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị hại không yêu cầu cụ thể số tiền trên mà yêu cầu giải quyết bồi thường theo quy định pháp luật; bị cáo đã nộp số tiền bồi thường thiệt hại là 60.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án huyện Kiến Thụy.
Về vật chứng: 01 tuýp sắt hình vuông dài 80cm bà H1 đã vứt tại nhà sau khi đánh bị cáo T, Cơ quan điều tra đã truy tìm nhưng không thu hồi được. 01 tuýp sắt hình trụ tròn dài 65cm, đường kính 2,1cm chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý theo thẩm quyền.
Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSKT ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo và bị hại đều yêu cầu Tòa án tính mức bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan yêu cầu bồi thường thiệt hại là 14.880.000 đồng. Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo nghiêm theo quy định.
Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt: Đồng Thị T mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.
3
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 tuýp sắt hình trụ tròn dài 65cm, đường kính 2,1cm.
- - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự, Điều 7 Nghị quyết số 02 ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần chấp nhận:
+ Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho chị T2 là: 52.510.884đồng, cụ thể như sau:
- Chi phí khám bệnh, chữa bệnh có hóa đơn chứng từ 29.810.884đồng.
- Chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở 2.100.000đồng.
- Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện 2.340.000đồng.
- Chi phí phục hồi sức khỏe sau ra viện cho bị hại 1.260.000đồng.
- Thu nhập thực tế bị mất của bị hại 8.000.000đồng.
- Chi phí tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm 9.000.000đồng.
+ Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho chị H gồm chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của chị H là: 5.400.000đồng.
Bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền bồi thường thiệt hại là 60.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án huyện Kiến Thụy. Do vậy, cần trả cho bị hại chị Phạm Thị T2 số tiền 52.510.884đồng, trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị H số tiền 5.400.000đồng, trả lại cho bị cáo số tiền 2.089.116đồng do bị cáo đã nộp bồi thường vượt quá số tiền theo quy định pháp luật.
Sau khi đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, bị cáo đồng ý và không có ý kiến tranh luận.
Bị hại trình bày ý kiến không đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với bị cáo; vì cụ Đồng D Cấp tự ý mang hung khí đến nhà mẹ con chị gây sự cãi chửi nhau, bị cáo có hành vi cố ý gây thương tích cho chị ngay tại nhà ở của mẹ con chị; tuy nhiên bị hại không trình bày mức hình phạt đề nghị mà yêu cầu giải quyết nghiêm theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên về phần bồi thường thiệt hại, chị H yêu cầu được bồi thường 14.880.000đồng. Kiểm sát viên đối đáp: Nguyên nhân mâu thuẫn do trước đó khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/9/2023, giữa anh Đồng Duy L (là cháu nội cụ C) và bà Ngô Thị H1 có xảy ra xô xát, cãi chửi nhau, anh L bị ngã; hậu quả anh L bị thương trật khớp vai phải đi cấp cứu tại bệnh viện H3. Do
4
bức xúc từ sự việc này nên cụ C đã lấy theo thanh sắt sang nhà bà H1 để cãi chửi nhau. Ban đầu bị cáo đi theo cụ C mục đích để can ngăn, nhưng sau đó do bột phát và bức xúc nên chính bị cáo lại có hành vi dùng gậy sắt gây thương tích cho bị hại. Do nhận thức được hành vi của mình là sai, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền bồi thường thiệt hại là 60.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự. Căn cứ vào tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị. Đối với ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chứng cứ trong hồ sơ đủ để chứng minh bị cáo phải bồi thường cho chị H số tiền là: 5.400.000đồng. Tại phiên tòa, chị H không giao nộp thêm được tài liệu gì mới, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận mức bồi thường như Viện kiểm sát đề nghị. Không ai có ý kiến tranh luận gì thêm. Bị cáo nói lời sau cùng tỏ ra ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với sơ đồ hiện trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 19 giờ ngày 05/9/2023 tại thôn C, xã T, huyện K, khi hai bên đang cãi chửi nhau do mâu thuẫn trong quan hệ gia đình, Đồng Thị T có hành vi dùng hung khí nguy hiểm là tuýp sắt đánh trúng vào đầu chị Phạm Thị T2 01 nhát gây thương tích. Hậu quả chị Phạm Thị T2 bị tổn thương cơ thể là 04%. Như vậy, hành vi của Đồng Thị T đã thỏa mãn cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
5
[3] Đánh giá tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Cần xử phạt nghiêm đối với bị cáo.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đã bồi thường thiệt hại 60.000.000đồng; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; gia đình có đơn xin bảo lãnh được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Hội đồng xét xử thấy, ban đầu bị cáo đi theo cụ C mục đích là để can ngăn vì thấy cụ C cầm gậy sắt, nhưng sau đó do bột phát và bức xúc khi hai bên chửi bới nhau nên chính bị cáo lại có hành vi dùng gậy sắt gây thương tích cho bị hại. Bị cáo đã phạm tội ít nghiêm trọng, tuy nhiên có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, xét thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo, là đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 tuýp sắt hình trụ tròn dài 65cm, đường kính 2,1cm là phương tiện dùng vào việc phạm tội; cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
[7.1] Tại giai đoạn điều tra và truy tố, bị hại chị Phạm Thị T2 đề nghị mức bồi thường thiệt hại là 100.000.000đồng, bao gồm các khoản sau:
- Chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện H3 (sau đây gọi là bệnh viện H3): 20.000.000đồng.
- Chi phí thuê phương tiện đi lại khám chữa bệnh tại bệnh viện H3 600.000đồng.
- Tiền ăn uống bồi dưỡng sức khỏe tại bệnh viện H3:
- Tiền thuốc sau khi xuất viện tại bệnh viện H3: 2.000.000đồng.
- Tiền mất thu nhập: 45 ngày (gồm 13 ngày nằm viện và 30 ngày ở nhà)
300.000 đồng/ngày x 13 ngày = 3.900.000đồng.
400.000 đồng/ngày x 45 ngày = 18.000.000đồng.
6
- Tiền khám lại, tiền thuốc và chi phí thuê xe đi khám lại tại bệnh viện H4 (Hà Nội) tổng là 4.500.000đồng.
- Chi phí tổn thất về tinh thần: 32.900.000đồng.
- Chi phí cho chị H là 18.100.000đồng, gồm:
- - Tiền mất thu nhập: 500.000đồng x 28 ngày = 14.000.000đồng
- - Tiền đi lại: 300.000đồng x 5 lượt = 1.500.000đồng
- - Tiền ăn trên bệnh viện: 200.000đồng x 13 ngày = 2.600.000đồng
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, chị T2 vẫn yêu cầu bồi thường các khoản mà pháp luật quy định, tuy nhiên không yêu cầu cụ thể số tiền bồi thường như trên mà đề nghị Tòa án giải quyết mức bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.
[7.2] Tại giai đoạn điều tra và truy tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị H đề nghị mức bồi thường thiệt hại là 14.880.000đồng, bao gồm các khoản sau:
- - Tiền mất thu nhập: 385.000đồng x 28 ngày = 10.780.000đồng.
- - Tiền đi lại: 300.000đồng x 5 lượt = 1.500.000đồng.
- - Tiền ăn tại bệnh viện: 200.000đồng x 13 ngày = 2.600.000đồng.
Tại phiên tòa, chị H vẫn giữ nguyên mức yêu cầu bồi thường thiệt hại như trên.
[7.3] Căn cứ Điều 590 Bộ luật Dân sự, Điều 7 Nghị quyết số 02 ngày 06/9/2022 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, cần xác định tổng mức bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm mà bị cáo phải bồi thường cho bị hại là 52.510.884đồng, gồm:
- Chi phí khám bệnh, chữa bệnh có hóa đơn chứng từ 29.810.884đồng, bao gồm:
- Tổng chi phí điều trị nội trú từ 20h10' ngày 05/9/2023 đến 14h ngày 18/9/2023 (tổng 13 ngày) tại bệnh viện H3: 19.321.735đồng.
- Tiền thuốc mua ngoài, trong quá trình điều trị tại bệnh viện H3:
- Tiền thuốc mua ngoài bệnh viện H3: 770.000đồng + 468.000đồng + 650.000đồng = 1.888.000đồng.
- Tiền thuốc mua tại bệnh viện H3 nhưng ngoài chi phí điều trị nội trú: 179.760đồng + 963.000đồng + 1.166.695đồng = 2.309.455đồng.
7
- Quá trình sau điều trị tại bệnh viện H3:
- - Tiền thuốc mua khi xuất viện tại bệnh viện H3 2.026.194đồng.
- - Khám bệnh, chụp chiếu, xét nghiệm tại bệnh viện H4 ngày 26/9/2023 gồm có: 1.706.000đồng + 1.415.000đồng = 3.121.000đồng.
- - Tiền thuốc mua tại bệnh viện H4 ngày 26/9/2023 là 1.144.500đồng.
- Chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở 2.100.000đồng, gồm:
- Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho bị hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng (4.680.000 đồng/tháng: 26 ngày = 180.000đồng) cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án từ ngày 05/9/2023 đến ngày 18/9/2023 (tổng 13 ngày):
- Chi phí phục hồi sức khỏe của bị hại: Sau khi ra viện, cần tính cho bị hại 07 ngày để phục hồi sức khỏe là phù hợp
- Thu nhập thực tế bị mất của bị hại: Bị hại làm nghề buôn bán gạo tại địa phương, khai thu nhập bình quân là 400.000đồng/ngày, phù hợp với tài liệu xác minh trong hồ sơ thể hiện thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế của bị hại bị mất là 300.000đồng đến 500.000đồng/ngày. Cần tính mức thu nhập là 400.000đồng/ngày, với thời gian 13 ngày điều trị tại bệnh viện và 07 ngày phục hồi sức khỏe, tổng là 20 ngày,
- Chi phí tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm: Bị hại bị thương tích 4%, cần chấp nhận mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần là 05 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định (1.800.000đồng/tháng)
2.1 Thuê phương tiện đi viện Tiệp: 600.000đồng.
2.2 Thuê phương tiện đi khám tại bệnh viện H4 ngày 26/9/2023 là 1.500.000đồng.
180.000 đồng/ngày x 13 ngày = 2.340.000đồng.
180.000 đồng/ngày x 07 ngày = 1.260.000đồng.
400.000đồng/ngày x 20 ngày = 8.000.000đồng.
1.800.000đồng/tháng x 05 tháng = 9.000.000đồng.
[7.4] Tổng mức bồi thường thiệt hại mà bị cáo phải bồi thường cho chị H là người chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị là 5.400.000đồng, gồm các khoản sau:
- Tiền tàu xe đi lại bệnh viện là chi phí hợp lý: 05 lượt x 300.000đồng = 1.500.000đồng.
8
- Thu nhập thực tế bị mất của chị H khi chăm sóc bị hại trong thời gian điều trị tại bệnh viện: Chị H làm nghề công nhân, khai thu nhập bình quân là 385.000đồng/ngày nhưng không có bảng lương, hợp đồng lao động để chứng minh mức tiền lương. Tài liệu xác minh trong hồ sơ thể hiện thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương (làm công nhân) trong khoảng thời gian thu nhập thực tế của chị H bị mất là 200.000đồng đến 400.000đồng/ngày. Do vậy, cần tính mức thu nhập cho chị H 300.000đồng/ngày là phù hợp. Về số ngày tính bồi thường: Ngoài 13 ngày chăm sóc chị T2 ở bệnh viện thì chị H yêu cầu tính thêm 15 ngày chăm sóc chị T2 ở nhà. Tuy nhiên, bị hại là chị T2 không thuộc trường hợp bị mất khả năng lao động và phải có người thường xuyên chăm sóc, do đó, yêu cầu này của chị H không được chấp nhận. Như vậy, thu nhập thực tế bị mất của chị H được tính là: 300.000đồng/ngày x 13 ngày = 3.900.000đồng.
Tiền ăn tại bệnh viện chị H yêu cầu là 2.600.000đồng nhưng theo quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 02 ngày 06/9/2022 thì chi phí này không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7.5] Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền bồi thường thiệt hại là 60.000.000đồng tại Chi cục Thi hành án huyện Kiến Thụy. Do vậy, cần trả cho bị hại chị Phạm Thị T2 số tiền 52.510.884đồng, trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị H số tiền 5.400.000đồng, trả lại cho bị cáo số tiền 2.089.116đồng do bị cáo đã nộp bồi thường vượt quá số tiền theo quy định pháp luật, tại Biên lai thu tiền số 0006270 ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
[8] Trong vụ án này, cụ C không bàn bạc, thống nhất với bị cáo Đồng Thị T về hành vi cố ý gây thương tích cho chị T2 nên không đồng phạm. Cụ C có hành vi dùng tuýp sắt và tay đánh bà H1; bà H1 có hành vi dùng tuýp sắt đánh bị cáo T nhưng không ai bị thương tích nên Cơ quan điều tra chuyển đến Công an huyện K xử phạt hành chính. Đối với sự việc xô xát đánh nhau giữa anh Đồng Duy L và bà Ngô Thị H1 tại cửa hàng gạo của nhà bà Phạm Thị C1, hậu quả anh L bị tổn thương cơ thể là 12%. Đến nay, chưa đủ cơ sở xác định thương tích của anh L do bà H1 gây ra hay trong lúc anh L dùng chân đá về phía bà H1 trượt chân ngã nên Cơ quan điều tra đã quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự để xác minh, điều tra là đúng quy định pháp luật (Vật chứng kèm theo: 01 chổi cước, phần cán bằng kim loại màu sáng bạc rỗng bên trong, phần lưỡi chổi bằng cước màu đỏ, tổng chiều dài 113cm; 01 chổi đót, phần cán được bọc bên ngoài bằng nhựa màu xanh, tổng chiều dài 72cm).
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
9
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố bị cáo Đồng Thị T phạm tội “Cố ý gây thương tích”
- Xử phạt bị cáo Đồng Thị T 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Đồng Thị T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự như sau:
“1. Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.
2. Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của UBND cấp xã, trường hợp không đồng ý thì UBND cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của UBND cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, UBND cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho UBND cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.
3. Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.
4. Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách”.
10
- - Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo kể từ ngày tuyên án.
- - Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự;
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Trả cho bị hại chị Phạm Thị T2 số tiền 52.510.884đ (Năm mươi hai triệu, năm trăm mười nghìn, tám trăm tám mươi tư đồng).
+ Trả cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bùi Thị H số tiền 5.400.000đ (Năm triệu, bốn trăm nghìn đồng).
+ Trả lại cho bị cáo số tiền 2.089.116đ (Hai triệu, không trăm tám mươi chín nghìn, một trăm mười sáu đồng).
Theo Biên lai thu tiền số 0006270 ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
Tịch thu tiêu hủy 01 tuýp sắt hình trụ tròn dài 65cm, đường kính 2,1cm (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
11
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Khúc Thị Minh | Phạm Thị Ngà |
| Nguyễn Văn Lượng |
Nơi nhận:
- - TAND thành phố Hải Phòng;
- - VKSND thành phố Hải Phòng;
- - VKSND huyện Kiến Thụy;
- - Công an huyện Kiến Thụy;
- - Phòng PV06 + PC10 Công an Hải Phòng;
- - Chi cục THADS huyện Kiến Thụy;
- - Sở tư pháp;
- - Ủy ban nhân dân xã Tú Sơn;
- - Bị cáo; bị hại;
- - Người có QL, NV liên quan;
- - Lưu: VP, hồ sơ.
|
12 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
|
13 |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
14 |
Phạm Thị Ngà |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm về tội "cố ý gây thương tích"
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Cố ý gây thương tích"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng Thị T
