|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 08/8/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Huyền;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thảo và ông Nguyễn Thành Nhật.
Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lý, Thư ký Toà án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai tham gia phiên toà: Ông Hoàng Văn Thùy và ông Đặng Văn Hoàng, Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Nhà văn hóa xóm L, xã T, huyện V, Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 10/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 25/7/2024, đối với bị cáo:
Phạm Văn C, tên gọi khác: không; sinh ngày 09/10/1990, tại Thái Nguyên;
nơi cư trú: xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn C1 và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Phùng Thị Kim A, đã ly hôn; có 01 con.
Tiền sự: không.
- Tiền án: 03
- + Tại Bản án số 50/2016/HSST ngày 29/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 30/9/2017;
- + Tại Bản án số 20/2018/HSST ngày 20/6/2018 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 21 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 22/12/2019;
- + Tại Bản án số 51/2020/HSST ngày 23/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 06/7/2023;
- Nhân thân: 04
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 328/QĐ-UBND ngày 26/12/2008 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 500.000 đồng về hành vi Trốn tránh không tham gia khám tuyển nghĩa vụ quân sự;
- + Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 41/2011/HSPT ngày 21/4/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản;
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC ngày 06/6/2016 của Công an xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản;
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0017075/QĐ-XPVPHC ngày 29/4/2020 của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi Hủy hoại tài sản;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/02/2024 đến nay, có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vi Khánh P, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt;
- Người chứng kiến:
- + Anh Ngô Văn T1, sinh năm 1978, nơi cư trú: TDP T, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt;
- + Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1995, nơi cư trú: TDP số 1, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 16/02/2024 Tổ công tác Công an thị trấn Đ, huyện V thực hiện nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại tổ dân phố T, thị trấn Đ phát hiện một người nam giới đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu dừng lại để kiểm tra, người này tự khai tên là Phạm Văn C và tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc 01 gói giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng bên trong có chứa chất màu trắng dạng bột, cục, C khai nhận số chất màu trắng dạng cục và bột là ma túy loại Heroine của C mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong số vật chứng, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định, Tổ công tác còn tạm giữ của C 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, biển kiểm soát 20D1 - 040.23.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng: Số chất màu trắng dạng bột và cục thu giữ của C có khối lượng 0,232 gam, lấy toàn bộ đưa vào bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 366/KL-KTHS ngày 25/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: chất màu trắng dạng cục, bột trong bì niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,232 gam.
Phạm Văn C khai nhận: C là người nghiện ma túy loại heroine, sáng ngày 16/02/2024 C sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, BKS 20D1 – 040.23 là xe của ông Phạm Văn C1, sinh năm 1964, trú tại xóm T, xã T, huyện V, tỉnh Thái Nguyên (bố đẻ của C) đến khu vực ngã ba đoạn đường rẽ vào thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây C gặp và mua của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với giá 300.000 đồng được gói bằng 01 gói giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng, C cất giấu vào túi quần phía trước bên phải đang mặc và đi tìm nơi sử dụng. C điều khiển xe mô tô đi đến thị trấn Đ, huyện V và đi bộ vào cửa hàng thuốc “T" thuộc tổ dân phố T, thị trấn Đ hỏi mua xi lanh để sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an thị trấn Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu M bên trong có 0,211 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 vỏ bao gói; 01 bì niêm phong ký hiệu V bên trong có chứa 01 mảnh giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu A. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai chờ xử lý.
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Jupiter, BKS 20D1 – 040.23 xác định chiếc xe của ông Phạm Văn C1 cho bị cáo mượn, hiện đã trả lại cho ông C1 quản lý, sử dụng.
Cáo trạng số 28/CT-VKSTPTN ngày 10/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Võ Nhai truy tố bị cáo Phạm Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm các vấn đề cụ thể sau:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 06 năm tù đến 07 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu M, V.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên toà sơ thẩm bị cáo nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa: Nhất trí với tội danh, điều luật như nội dung Bản cáo trạng truy tố và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ xử phạt bị cáo mức án từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Tại lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Theo các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra và diễn biến tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:
Khoảng 11 giờ ngày 16/02/2024, tại khu vực tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện V, tỉnh Thái Nguyên, Phạm Văn C là người có tiền án chưa được xóa án tích đã có hành vi tàng trữ 0,232 gam ma túy loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an thị trấn Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
- Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
o, Tái phạm nguy hiểm.”...
- Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương.
- Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo đã liên tục 03 lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, mặc dù bị cáo chỉ tàng trữ 0,232 gam ma túy loại Heroine nhưng bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là tình tiết định khung hình phạt; nhân thân đã 03 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và 01 lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản, nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo, tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đó là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt chính áp dụng đối với bị cáo: xét thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt và răn đe phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người nghiện ma tuý, tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích bán kiếm lời; xác minh tại nơi cư trú của bị cáo xác định bị cáo hiện đang sống cùng gia đình, không có tài sản gì riêng có giá trị, gia đình thuộc hộ nghèo. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong kí hiệu M bên trong có 0,211 gam mẫu M còn lại sau giám định và 01 vỏ bao gói; 01 bì niêm phong ký hiệu V bên trong có chứa 01 mảnh giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu A là vật chứng của vụ án cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu huỷ.
- Về các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ tại khu vực thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp quy định pháp luật.
- Đối với ông Phạm Văn Cù 1 bố đẻ của bị cáo, xác định ông C1 cho bị cáo mượn xe mô tô nhưng ông C1 không biết bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không xem xét xử lý đối với ông Cù là phù hợp quy định pháp luật.
- Về án phí: Bị cáo là cá nhân thuộc hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn C 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/02/2024.
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong kí hiệu M bên trong có 0,211 gam mẫu M còn lại sau giám định và vỏ bao gói ký hiệu M; 01 bì niêm phong ký hiệu V bên trong có chứa 01 mảnh giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng và 01 vỏ phong bì cũ ký hiệu A.
Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 35 ngày 04/7/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Võ Nhai.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thanh Huyền |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt Phạm Văn Ch 06 năm tù
