|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
Bản án số: 28/2024/HS-ST
Ngày 08-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trần Minh Châu
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Hùng Em;
- Ông Phan Ngọc Thành.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đặng Hồng Thiên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Đỗ Kim H, sinh năm 1974; tên gọi khác: Không; nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T, sinh năm 1942 (chết) và bà Lê Thị G, sinh năm 1940; có chồng trước Dương Văn N, sinh năm 1972 (chết), chồng sau Nguyễn Văn L, sinh năm 1973 và có 02 người con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1999; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 24/5/2023 Công an tỉnh A xử phạt hành chính số tiền 40.000.000 đồng về hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu (chưa nộp phạt); tạm giữ: Không; tạm giam: Không; Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 24/LC-CĐKNCT, ngày 26/02/2024 của Công an huyện T, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Nguyễn Văn L, sinh năm 1973; có mặt
Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
-
Ngô Âm N1, sinh năm 1972. vắng mặt
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người làm chứng: Huỳnh Văn Đủ A, sinh năm 1985. vắng mặt
Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 26/12/2023, Đỗ Kim H từ nhà tại ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An, điều khiển xe mô tô biển số 51L5-6134 đến gần bờ kênh (cách nhà khoảng 100 mét) thuộc khu vực ấp G, gặp 01 người phụ nữ (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) mua thuốc lá điếu nhập lậu gồm: Hero 200 bao (giá 149.000 đồng/10 bao), Jet 300 bao (giá 179.000 đồng/10 bao), Nelson 300 bao (giá 118.000 đồng/10 bao), H chưa trả tiền, sau khi nhận thuốc lá H chở về nhà, bỏ thuốc lá vào 03 giỏ xách, 01 giỏ treo trước baga xe, 02 giỏ treo 02 bên phía sau xe mô tô, mục đích chở đi xã M, huyện C, tỉnh An Giang bán cho các cửa hàng tạp hóa nhỏ (không nhớ rõ tên cửa hàng). H cùng với chồng là Nguyễn Văn L cùng đi. H điều khiển xe mô tô biển số 51L5-6134, chở thuốc lá và L phía sau. Khi đến 02 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, H điều khiển xe đến ấp A, xã H, huyện T, bị Công an xã H phát hiện yêu cầu dừng xe, lập biên bản vụ việc và thu giữ vật chứng. Quá trình điều tra thể hiện ngày 24/5/2023 Đỗ Kim H bị Công an tỉnh A xử phạt hành chính số tiền 40.000.000 đồng về hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, chưa nộp phạt.
Vật chứng thu giữ của Đỗ Kim H, gồm: 800 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm: 200 bao thuốc lá hiệu Hero, 300 bao thuốc lá hiệu Jet, 300 bao thuốc lá hiệu Nelson (đã niêm phong); 03 giỏ xách nhựa, loại dây da nhựa màu xanh (đã qua sử dụng); 01 xe mô tô biển số 51L5-6134, số máy 002750, số khung 5H002750, màu đỏ đen (đã qua sử dụng), xe do Ngô Âm N1 đứng tên chủ sở hữu.
Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Kim H khai nhận: Vào khoảng 23 giờ ngày 26/12/2023, Đỗ Kim H từ nhà tại ấp G, xã H, huyện T, tỉnh Long An, điều khiển xe mô tô biển số 51L5-6134 đến gần bờ kênh (cách nhà khoảng 100 mét) thuộc khu vực ấp G, gặp 01 người phụ nữ (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) mua thuốc lá điếu nhập lậu gồm: Hero 200 bao (giá 149.000 đồng/10 bao), Jet 300 bao (giá 179.000 đồng/10 bao), Nelson 300 bao (giá 118.000 đồng/10 bao), bị cáo H chưa trả tiền, nhận thuốc lá bị cáo H chở về nhà, bỏ thuốc lá vào 03 giỏ xách, 01 giỏ treo trước baga xe, 02 giỏ treo 02 bên phía sau xe mô tô, mục đích chở đi xã M, huyện C, tỉnh An Giang bán cho các cửa hàng tạp hóa nhỏ (không nhớ rõ tên cửa hàng). Bị cáo H cùng với chồng là Nguyễn Văn L cùng đi. Bị cáo H điều khiển xe mô tô biển số 51L5-6134, chở thuốc lá và L phía sau. Khi đến 02 giờ 30 phút ngày 27/12/2023, bị cáo H điều khiển xe đến ấp A, xã H, huyện T, bị Công an xã H phát hiện yêu cầu dừng xe, lập biên bản vụ việc và thu giữ vật chứng.
Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKS-TN ngày 22 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Đỗ Kim H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và khẳng định cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191; Điều 38, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Đỗ Kim H, phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Tình tiết tăng nặng: Không. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng. Về vật chứng và các vấn đề khác: Giữ nguyên theo Cáo trạng.
- Bị cáo Đỗ Kim H khai: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo không tham gia tranh luận, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn L khai: Ngày 27/12/2023 có tham gia cùng với bị cáo H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng 800 bao, ông L thống nhất theo nội dung bản cáo trạng và phát biểu luận tội của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản vụ việc vận chuyển hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu ngày 27/12/2023 của Công an xã H, huyện T; Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 02 giờ, 30 phút ngày 27/12/2023, tại ấp A, xã H, huyện T, Công an xã H phát hiện bị cáo Đỗ Kim H điều khiển xe mô tô biển số 51L5-6134 chở thuốc lá nhập lậu và Nguyễn Văn L ngồi phía sau xe, yêu cầu dừng xe, lập biên bản vụ việc, thu giữ 200 bao thuốc lá điếu, hiệu HERO; 300 bao thuốc lá điếu, hiệu JET; 300 bao thuốc lá điếu, hiệu NELSON, tổng cộng 800 bao, (không có hoá đơn chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ). Ngoài ra, bị cáo Đỗ Kim H có tiền sự về hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu cụ thể ngày 24/5/2023 bị cáo H bị Công an tỉnh A xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 369 ngày 24/5/2023 do hành vi vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 40.000.000 đồng (chưa nộp phạt) đến nay vẫn chưa hết thời hiệu. Vì vậy, bị cáo Đỗ Kim H phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi “Vận chuyển hàng cấm” mà Bộ luật Hình sự đã quy định.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất ổn định an ninh trật tự ở địa phương, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Bị cáo vận chuyển trái phép thuốc lá điếu nhập lậu đã từng bị xử lý hành chính và vẫn chưa hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, lại tiếp tục thực hiện hành vi vận chuyển trái phép thuốc lá điếu nhập lậu đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm e khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức hình phạt theo điều luật quy định phạt tiền từ 50.000.000đồng đến 300.000.000đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hình phạt bổ sung: Xét thấy, bản thân bị cáo làm thuê thu nhập thấp nên không áp dụng.
[4] Bản thân bị cáo có đủ năng lực, hành vi nhận thức được việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, nhưng vì ham lợi muốn có tiền mà bị cáo bất chấp pháp luật để đi vào con đường phạm tội nên áp dụng hình phạt với một mức án tương xứng với nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo H có hoàn cảnh gia đình khó khăn theo xác nhận của Uỷ ban nhân xã H, huyện T, tỉnh Long An ngày 15/01/2024; bị cáo có trình độ học vấn 03/12 nên khả năng nhận thức và am hiểu pháp luật còn hạn chế, theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên được xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định của pháp luật. Tình tiết tăng nặng: Không có.
Tại phiên tòa bị cáo H xin được hưởng án treo. Xét thấy, tình hình tội phạm vận chuyển hàng cấm ở địa phương có chiều hướng gia tăng tại địa phương, quần chúng nhân dân hết sức bất bình, phẫn nộ, nên cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung, nên không chấp nhận cho bị cáo hưởng án treo là phù hợp.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 800 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, (trong đó: 200 bao thuốc lá hiệu Hero, 300 bao thuốc lá hiệu Jet; 300 bao thuốc lá hiệu Nelson); 03 giỏ xách nhựa, loại dây da nhựa màu xanh (qua sử dụng). Xét thấy, đây là thuốc lá điếu nhập lậu không có hóa đơn xuất xứ nguồn gốc cấm lưu hành và giỏ xách là chứng cứ do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp theo quy định điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 xe mô tô biển số 51L5-6134, số máy 002750, số khung 5H002750, màu đỏ đen (đã qua sử dụng), xe do Ngô Âm N1 đứng tên chủ sở hữu, trong quá trình điều tra Ngô Âm N1 thừa nhận có đứng tên chủ sở hữu xe đã bán không nhớ bán cho ai, có làm giấy tay, hiện không yêu cầu gì. Bị cáo H khai xe mua của người thanh niên không rõ họ tên địa chỉ giá 1.500.000 đồng, không có giấy tờ. Xét thấy, vật chứng trên thuộc sở hữu của bị cáo H dùng vào việc phạm tội là phương tiện để vận chuyển thuốc lá nhập lậu nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Đối với Nguyễn Văn L, ngày 27/12/2023 có tham gia cùng với bị cáo H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng 800 bao không đủ định lượng để xử lý hình sự, ông L không có tiền án, tiền sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách chuyển hồ sơ hành vi của ông L đến Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma tuý và môi trường để xử lý theo quy định của pháp luật nên không xem xét.
[7] Đối với người phụ nữ (không rõ họ, năm sinh và địa chỉ cụ thể) bán thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo H không rõ nhân thân nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý theo quy định pháp luật.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 191; Điều 38, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Kim H phạm tội: “Vận chuyển hàng cấm”.
Xử phạt bị cáo Đỗ Kim H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
-
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 200 (hai trăm) bao thuốc lá nhãn hiệu Hero; 300 (ba trăm) bao thuốc lá nhãn hiệu Jet; 300 (ba trăm) bao thuốc lá nhãn hiệu Nelson (đã niêm phong); 03 giỏ xách nhựa, loại dây da nhựa màu xanh (qua sử dụng).
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô biển kiểm soát 51L5-6134, số máy 002750, số khung 5H002750, màu đỏ đen (qua sử dụng).
(Tất cả vật chứng nêu trên Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Đỗ Kim H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Trần Minh Châu |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về vận chuyển hàng cấm
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển hàng cấm bị cáo Đỗ Kim H
