TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL TỈNH ĐẮK NÔNG Bản án số:28/2024/HS-ST Ngày: 08/5/2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thanh, bà Nguyễn Thị Đào
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Mil.
Đại diện VKSND huyện Đắk Mil tham gia phiên toà: Ông Phạm Anh Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 08/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Mil mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024; quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/QĐST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Đức T; sinh năm 2002; tại: tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Bạch T2, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2020/HSST, ngày 02/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 02/11/2021, chấp hành xong hình phạt (bị cáo phạm tội khi mới 17 tuổi 08 tháng nên được coi là không có án tích); bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 01/01/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (có mặt)
- Lê Văn N; sinh năm 2003; tại: tỉnh Đắk Nông; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn X, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1968; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 23/12/2023 đến ngày 01/01/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. (có mặt)
Bị hại: Bà Lê Thị L, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
1
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Đình D, sinh năm 1963; Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Bạch T2, sinh năm 1971; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (có mặt)
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn X, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
- Anh Nguyễn Thái P, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 23/12/2023, Lê Văn N và Nguyễn Đức T đến rẫy cà phê của gia đình N tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để hái cà phê thì phát hiện rẫy của bà Lê Thị L không có người trông coi nên nảy sinh ý định hái trộm cà phê của bà L bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, Nguyễn Đức T và Lê Văn N đến chòi rẫy của ông Nguyễn Đình D lấy 01 cái bạt đã cũ, kích thước 3,6m x 06m rồi đi bộ vào rẫy của bà Lê Thị L dùng bạt hái được 187,5kg cà phê quả tươi thì bị anh Nguyễn Thái P và anh Nguyễn Đình Q phát hiện và bắt giữ được T cùng tang vật còn N bỏ chạy thoát. Đến ngày 24/12/2023, Lê Văn N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đắk Nông để đầu thú. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Đức T và Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 81/KL-HĐĐGTS, ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 187,5kg quả cà phê tươi, loại cà phê dây, có giá trị là 3.093.750 đồng (ba triệu không trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
Bản Cáo trạng số 20/CT-VKS ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức Tiến, Lê Văn Nam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T và Lê Văn N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông sau khi phân tích tính chất vụ án, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Đức T và Lê Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T và Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2
Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời hạn tạm giữ 9 ngày. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thời hạn giữ 9 ngày. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của BLTTHS; Áp dụng Điều 47 BLHS:
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại: 187,5 kg quả cà phê tươi; 01 máy cưa nhãn hiệu Kamastsu KM2500 đã qua sử dụng; 02 con dao (mỗi con dài 21cm, cán dao bằng nhựa màu vàng); 01 cái bạt, loại xác rắn, màu nâu, đã qua sử dụng, kích thước 3,6m x 06m cho các chủ sở hữu hợp pháp.
+ Tịch thu, tiêu huỷ 10 bao xác rắn, màu xanh, có chữ UREA do không còn giá trị sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 BLDS, chấp nhận bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Văn N mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
Tại phiên toà, các bị cáo không bào chữa, không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; lời khai của bị cáo; lời khai của người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Mil, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức T và Lê Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc theo bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Mil đã truy tố, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các lời khai của người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định: Trong khoảng thời gian từ 09 giờ đến 10 giờ ngày 23/12/2023, tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Đức T và Lê Văn N có hành vi lén lút trộm cắp của bà Lê Thị L 187,5kg quả cà phê tươi, loại cà phê dây, có giá trị là 3.093.750 đồng (Ba triệu không trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
3
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Xét quan điểm buộc tội và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
[3] Xét tính chất vụ án do các bị cáo gây ra là ít nghiêm trọng, tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là công dân có đầy đủ nhận thức pháp luật để biết được quyền tài sản của người khác là bất khả xâm phạm, được pháp luật bảo vệ, nhưng vì lười lao động muốn có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo đã lén lút trộm cắp của bà Lê Thị L 187,5kg quả cà phê tươi để bán. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi của các bị cáo gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, mỗi bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 500.000 đồng; tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị không lớn, đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Lê Văn N phạm tội lần đầu và thuộc thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an đầu thú. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với với bị cáo Lê Văn N; áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Đức T để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về nhân thân: Bị cáo Lê Văn N có nhân thân tốt. Bị cáo Nguyễn Đức T có nhân thân: tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2020/HSST, ngày 02/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Ngày 02/11/2021, chấp hành xong hình phạt (bị cáo phạm tội khi mới 17 tuổi 08 tháng nên được coi là không có án tích).
[7] Trong vụ án này có hai bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm, phạm tôi mang tính chất bộc phát với tính chất đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên cũng cần xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân
4
của từng bị cáo để lượng khung hình phạt cho tương xứng. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo T mức hình phạt cao hơn bị cáo N là phù hợp.
Xét thấy các bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đáp ứng đầy đủ điều kiện cải tạo tại địa phương theo quy định của pháp luật. Đồng thời, cho các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tự cải tạo, sửa chữa trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội mà buộc các bị cáo chịu hình phạt cải tạo không giam giữ dưới sự quản lý, giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đảm bảo việc tính răn đe và phòng ngừa chung.
[8] Xét thấy bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Văn N không có tài sản, không có thu nhập không ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng vụ án: căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:
+ Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại: 187,5 kg quả cà phê tươi; 01 máy cưa nhãn hiệu Kamastsu KM2500 đã qua sử dụng; 02 con dao (mỗi con dài 21cm, cán dao bằng nhựa màu vàng); 01 cái bạt, loại xác rắn, màu nâu, đã qua sử dụng, kích thước 3,6m x 06m cho các chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên cần chấp nhận.
+ Đối với 10 bao xác rắn, màu xanh, có chữ UREA do không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 1.000.000 đồng (Trong đó bị cáo Nguyễn Đức T bồi thường 500.000 đồng, bị cáo Lê Văn N bồi thường 500.000 đồng). Xét thấy việc thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo và bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 584, Điều 589 BLDS nên cần chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS.
Xử phạt: Nguyễn Đức T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ quy đổi thành 27 (hai mươi bảy ngày) cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giảm giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
5
Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Nguyễn Đức T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Miễn trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.
Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS.
Xử phạt Lê Văn N 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ, được khấu trừ 09 (chín) ngày tạm giữ quy đổi thành 27 (hai mươi bảy ngày) ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giảm giữ tính từ ngày Cơ thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Lê Văn N cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Gia đình bị cáo Lê Văn N có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông trong việc giám sát giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Miễn trừ thu nhập hàng tháng cho bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự:
+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ sau đó trả lại: 187,5 kg quả cà phê tươi; 01 máy cưa nhãn hiệu Kamastsu KM2500 đã qua sử dụng; 02 con dao (mỗi con dài 21cm, cán dao bằng nhựa màu vàng); 01 cái bạt, loại xác rắn, màu nâu, đã qua sử dụng, kích thước 3,6m x 06m cho bà Nguyễn Thị Bạch T2 và ông Nguyễn Đình D là các chủ sở hữu hợp pháp. (Theo biên bản trả lại tài sản ngày 01/01/2024).
+ Tịch thu, tiêu huỷ 10 bao xác rắn, màu xanh, có chữ UREA do không còn giá trị sử dụng.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Mil).
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 589 BLDS: Chấp nhận bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Văn N và bị hại bà Lê Thị L đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng). Trong đó bị cáo Nguyễn Đức T bồi thường 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), bị cáo Lê Văn N bồi thường 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
6
4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: buộc bị cáo Nguyễn Đức T, Lê Văn N mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thùy Dung |
7
8
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK MIL, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ 09 giờ đến 10 giờ ngày 23/12/2023, tại thôn Đắk Xô, xã Đắk Sắk, huyện Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông, Nguyễn Đức Tiến và Lê Văn Nam có hành vi lén lút trộm cắp của bà Lê Thị Liễu 187,5kg quả cà phê tươi, loại cà phê dây, có giá trị là 3.093.750 đồng (Ba triệu không trăm chín mươi ba nghìn bảy trăm năm mươi đồng).
