Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUAN HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 07/08/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vi Ngọc Trung và ông Nguyễn Văn Mừng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phương - Kiểm sát viên.

Vào ngày 07/08/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 09/07/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 25/07/2024, đối với bị cáo:

NGUYỄN ĐÌNH TÂN - Sinh năm 1972, Nơi sinh: xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Khu D, Thị trấn H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình T (đã chết) và bà Phạm Thị Đ, sinh năm: 1940; Bị cáo có vợ là Vũ Thị L, sinh năm: 1980 và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm: 2001; Hiện tại, mẹ, vợ và các con của bị cáo đang sinh sống bằng nghề lao động tự do tại Khu D, thị trấn H, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.

Tiền án; Tiền sự: Không; Bị cáo được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Quan Hóa. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại địa phương (Có mặt);

- Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Tiến T1 - Sinh năm: 2006
    Trú tại: Bản É, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Anh Hà Phạm Việt A - Sinh năm: 2007
    Trú tại: Bản T, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa
    (Đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Ngọc N - Sinh năm: 1978.
  2. Bà Phạm Thị H - Sinh năm: 1983.

Cùng trú tại: Bản É, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

(Đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng:

  • + Ông Cao Văn T2 - Sinh năm: 1964 (Vắng mặt không có lý do)
  • + Anh Cao Văn T3 - Sinh năm: 1993 (Vắng mặt không có lý do)
  • + Anh Bùi Thế L1 - Sinh năm: 1989 (Vắng mặt không có lý do)

Cùng trú tại: Bản É, xã P, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 53 phút ngày 24/12/2023 bị cáo nổ máy xe ô tô BKS 36A-445.32, nhãn hiệu MITSUBISHI, màu sơn trắng, số khung NC1WKN056148, số máy 4A9HG4574 đang đậu ở lề đường phải gần nhà bị cáo theo hướng từ khu D đến khu C, thị trấn H, huyện Q, sau đó bật xi nhan trái với mục đích chuyển hướng quay đầu, đồng thời nhìn qua gương chiếu hậu bên trái xe ô tô thì phát hiện một xe ô tô tải đang đi phía sau cùng chiều, tiếp đến là xe mô tô BKS 36H5 - 072.59, nhãn hiệu YAMAHA, màu sơn đen, số khung RLCUG0610HY558715, số máy G3D4E583496 do Nguyễn Tiến T1 điều khiển chở theo Hà Phạm Việt A. Khi thấy xe ô tô tải vượt qua, bị cáo liền điều khiển xe của mình chuyển hướng sang phần đường bên trái quay đầu thì bị xe mô tô do T1 điều khiển đâm va vào. Hậu quả: T1 bị thương rách da tại vùng gò má, mi mắt trái, gãy xương đùi trái; Việt A bị thương sưng nề, xây xước da tại vùng mặt ngang mức trán bên trái, gối trái sưng nề, gãy xương đùi trái; xe mô tô BKS 36H5-072.59 và xe ô tô BKS 36A-455.32 bị hư hỏng.

Sau khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Q đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện. Kết quả khám nghiệm thể hiện:

Kết quả khám nghiệm hiện trường (Vào hồi 14 giờ 30 phút cùng ngày) xác định (BL 02 đến 04):

Hiện trường nơi xảy ra tại Km 48+500 Quốc lộ A thuộc địa phận khu D, thị trấn H, huyện Q là đoạn đường thẳng, mặt đường khô ráo, rải nhựa bằng phẳng, xuống dốc theo chiều từ khu 5 đi khu C, thị trấn H; đoạn đường không có chướng ngại vật, tầm nhìn không bị che khuất; có vạch kẻ sơn màu vàng nét đứt. Tại hiện trường phát hiện:

  • + Xe ô tô biển kiểm soát 36A-455.32 đang đỗ ở trên đường, đầu xe hướng Nam. Đuôi xe hướng Bắc;
  • + Xe mô tô biển kiểm soát 36H5-072.59 đổ nghiêng trái, đầu xe hướng T, đuôi xe hướng Đông Nam;
  • + Vết tỳ trượt (dạng vết phanh) kích thước 4,6m x 0,05m, vết có chiều từ Đông Nam sang T, bề mặt vết có bám dính chất màu đen dạng cao su là vết do xe mô tô 36H5-072.59 để lại;
  • + Các mảnh nhựa vỡ, kính vỡ nằm rải rác trên mặt đường nhựa trong diện kích thước 2,47m x 2,95m;
  • + Vết màu nâu đỏ (nghi máu) kích thước 3,52m x 0,49m;
  • + Vết cà trượt không liên tục kích thước 0,78m x 0,12m là vết do giá để chân sau bên trái xe mô tô 36H5-072.59 để lại, vết có chiều hướng từ T sang Đ, chếch từ Bắc sang Nam

Điều kiện khám nghiệm: Trời khô, lạnh, ánh sáng tự nhiên

Xác định vị trí, điểm va chạm giữa 2 phương tiện trên đường là tại vị trí các mảnh nhựa vỡ, kính vỡ, ký hiệu (4) tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường

Tiến hành trích xuất camera của gia đình Nguyễn Đình T4, thu được 01(một) tệp video ghi nhận diễn biến đâm va giữa 2 phương tiện.

Khám nghiệm phương tiện xác định: Điểm đâm va đầu tiên giữa 2 phương tiện là mặt lăn lốp bánh trước (tương ứng song song với dòng chữ ROSS SPORT đến dòng chữ PIRELLI) của xe mô tô biển kiểm soát 36H5- 072.59 với mặt ngoài phía trước cánh cửa sau bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 36A-455.32. Tại thời điểm va chạm, xe mô tô 36H5-072.59 chuyển động gần như vuông góc với xe ô tô 36A-455.32.

Khám nghiệm phương tiện xe ô tô BKS36A-544.32 xác định:

  • - Mặt ngoài phía sau dưới cánh cửa trước bên trái có vết tỳ trượt, cà trượt làm sạch bụi đất, mài mòn, bong tróc sơn, móp méo kim loại; kích thước 86cm x 56cm, chiều hướng vết từ ngoài vào trong xe, từ trước về sau.
  • - Kính cửa sau bên trái bị vỡ hoàn toàn.
  • - Mặt ngoài phía trước cánh cửa sau bên trái có vết tỳ trượt, cà trượt làm mài mòn, bong tróc sơn, sạch bụi đất, móp méo kim loại, kích thước 94cm x 99cm, bề mặt vết bám dính chất màu đen dạng sơn; chiều hướng từ ngoài vào trong xe, từ trước về sau, chếch từ dưới lên trên. Vết cao cách mặt đất 23cm -

Khám nghiệm phương tiện xe mô tô BKS 36H5-072.59 xác định:

  • - Xe không có gương chiếu hậu.
  • - Chắn bùn trước, hai bên cánh yếm gãy, vỡ.
  • - Mặt trước ngoài bên trái ốp nhựa đầu xe, mặt trước ngoài bên trái ốp đèn pha chiếu sáng, mặt trước ngoài bên trái mặt nạ có vết tỳ trượt, cà trượt làm vỡ nhựa (ốp nhựa đầu xe), mài mòn nhựa, sơn, kích thước 55cm x 25cm. Vết có chiều hướng từ phải qua trái, từ trước về sau, bề mặt vết bám dính chất màu trắng dạng sơn, vết cao cách mặt đất 60cm - 103cm.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 315,316/KLTTCT-PYTH ngày 25/03/2024 của Trung tâm P xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Tiến T1 là 32% (Ba mươi hai phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của H1 Phạm Việt A là 29% (Hai mươi chín phần trăm) (BL 74,75)

Kết quả giám định các nội dung khác:

  • - Kết quả giám định nồng độ cồn trong máu của Nguyễn Tiến T1 là 85,16mg/100ml máu (Tám năm phẩy một sáu miligam trên một trăm mililit máu). Kết quả đo nồng độ cồn trong khí thở của Nguyễn Đình T4: Không có nồng độ cồn.
  • - Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu của Nguyễn Tiến T1 và Nguyễn Đình T4: Không có chất ma túy.
  • - Tại bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 10/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện Q kết luận: Xe ô tô 36A-455.32 có giá trị thiệt hại (bằng tiền) là 10.750.000đ (Mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và xe ô tô 36H5- 072.59 có giá trị thiệt hại (bằng tiền) là 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Về điều kiện thủ tục pháp lý của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ:

  • - Xe ô tô biển kiểm soát 36A-455.32 có Đăng ký xe mang tên Nguyễn Đình T4, Giấy chứng nhận kiểm định và tem kiểm định có hiệu lực đến hết ngày 21/6/2024, Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô thời hạn đến ngày 22/6/2024.
  • - Xe mô tô biển kiểm soát 36H5-072.59 có Đăng ký xe mang tên Hà Thành T5 (là anh họ của T1) nhưng không có Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự, anh T5 đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản nên đã gửi xe tại gia đình của T1 nhờ bố mẹ T1 (là anh Nguyễn Ngọc N và chị Phạm Thị H) trông giữ, quản lý. Ngày 24/12/2023 T1 tự ý lấy xe mô tô 36H5-072.59 tham gia giao thông đường bộ dẫn đến tai nạn.

Về điều kiện, tiêu chuẩn bảo đảm an toàn trong hoạt động của người tham gia giao thông đường bộ:

  • - Đối với bị cáo có giấy phép lái xe hạng B2, giá trị đến ngày 24/02/2024. Tuy nhiên, quá trình điều khiển xe ô tô 36A-455.32 bị cáo T4 quay đầu xe tại đoạn đường không được phép quay đầu, đã vi phạm khoản 3 Điều 15 Luật giao thông đường bộ:

“ Điều 15. Chuyển hướng xe: Trong khu dân cư, lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe”.

  • - Đối với Nguyễn Tiến T1 điều khiển xe mô tô 36H5- 072.59 tham gia giao thông khi chưa đủ các điều kiện của người lái xe tham gia giao thông: Điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi chưa đủ tuổi, có nồng độ cồn vượt quá mức quy định (85,16/100ml máu) và điều khiển xe mà người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm.

Trong giai đoạn điều tra, bị cáo đã thực hiện việc bồi thường thiệt hại cho các bị hại với tổng số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), đồng thời đại diện gia đình các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ quan không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại bản Cáo trạng số 26/CT- VKS- QH ngày 08/07/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Quan Hóa đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm c khoản 1 Điều 260 BLHS.

Tại phiên toà: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T4 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 BLHS năm 2015; Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng cải tạo không giam giữ. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: không đề nghị. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn hối cải, mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng một mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội cải tạo, tu dưỡng thành người công dân có ích cho xã hội

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra, Viện Kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị hại không có ý kiến gì. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố đều hợp pháp.
  2. [2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo:

    Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố; lời khai của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, Kết luận giám định, Kết luận định giá và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy tắc tham gia giao thông đường bộ, quy định tại Điều 15 Luật giao thông đường bộ năm 2008. Tại khoản 3 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ quy định: “Trong khu dân cư, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng chỉ được quay đầu xe ở nơi đường giao nhau và nơi có biển báo cho phép quay đầu xe”.

    Như vậy, bị cáo đã có hành vi điều khiển xe ô tô không chú ý quan sát, quay đầu xe ở nơi đường không giao nhau và không có biển báo cho phép quay đầu gây tai nạn làm tổn hại cho sức khoẻ của 02 người, vi phạm khoản 3 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 260 BLHS 2015. VKSND huyện Quan Hoá truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. [3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng trong hoạt động giao thông vận tải đường bộ, gây tổn hại cho sức khoẻ người khác. Tuy nhiên khi lượng hình cần đánh giá mức độ gây thiệt hại, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhẹ hình sự để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, đảm bảo công tác răn đe phòng ngừa chung.
  4. [4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị cáo luôn có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã bồi thường thiệt hại tổng số tiền 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) cho gia đình các bị hại để khắc phục hậu quả. Ngoài ra, đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS để bị cáo thấy rõ sự khoan hồng của pháp luật.

    Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét có tình tiết: Bị cáo là người phạm tội lần đầu do lỗi vô ý. Bị cáo gây tai nạn nhưng cũng bị thiệt hại về tài sản với giá trị là 10.750.000₫ (Mười triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Do đó Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, xử bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đảm bảo việc giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Từ đó thể hiện sự nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

  5. [5] Về Khấu trừ thu nhập: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hiện tại đang nuôi mẹ già nên miễn khoản khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo.
  6. [6] Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho các bị hại tổng số tiền 50.000.000đ (hai mươi triệu đồng). Ngoài ra, các bị hại, đại diện gia đình các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì khác nên HĐXX không xem xét.
  7. [7] Về các tình tiết khác trong vụ án: Các vi phạm khác của Nguyễn Tiến T1 gồm: Tham gia giao thông khi chưa đủ tuổi; điều khiển xe mô tô mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định; điều khiển xe và người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm là những lỗi hành chính. Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển Công an huyện Q xử phạt hành chính theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
  8. [8] Về xử lý vật chứng: 01 ôtô, 01 xe môtô đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  9. [9] Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 50 BLHS năm 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 331, 333 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 19/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Tuyên: Bị cáo Nguyễn Đình T4 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T4 15 (Mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Đình T4 cho Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Q giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.

  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, có mặt bị cáo; vắng mặt các bị hại và đại diện của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Bị cáo có quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Đại diện của bị hại, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - VKSND huyện Quan Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT- CA huyện Quan Hóa;
  • - Cơ quan THAHS- CA huyện Quan Hóa;
  • - UBND Thị trấn Hồi Xuân;
  • - Lưu HSVA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Vi Ngọc Trung

Nguyễn Văn Mừng

Ngô Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Tân phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger