|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 28/2024/HS-ST Ngày: 04/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Giúp Đở
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Thanh Dũng
Bà Trần Thị Minh Hiền
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phục Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Hận và bà Huỳnh Thị Bích Liên – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên:
1/ Nguyễn Văn S, sinh ngày 01/01/1995, tại Cần Thơ;
Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn M (chết) và bà Nguyễn Thị Thu X (sống); Tiền sự: Không; Tiền án: 01 lần, ngày 10/02/2015, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang xử 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/11/2015, bị cáo chưa nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 18/11/2023, có mặt tại phiên tòa.
2/ Cao Thanh H, sinh ngày 15/01/1982, tại Cần Thơ;
Nơi cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Cao Hùng P (sống) và bà Bạch Thị L1 (sống); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/11/2023, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1996 (có mặt)
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng gần 07 giờ ngày 17/11/2023, H điều khiển xe mô tô Wave màu xanh biển kiểm soát 65K1-104.93 đến quán K ngồi uống cà phê với S một lúc rồi H điều khiển xe mô tô trên chở S đi ra hướng Ô Môn rồi di chuyển qua địa phận huyện T mục đích tìm kiếm những nhà nào sơ hở, không ai trông coi để lấy trộm tài sản. Khi cả hai đi ngang nhà của bà Nguyễn Thanh T, sinh năm 1996 ở ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ thì S kêu H dừng xe để S vào xem, còn H thì điều khiển xe cách chỗ S khoảng 50 mét để chờ. S đi đến thấy cửa chính đã khóa, cửa bên hông không khóa nên S lấy tay kéo cửa đi vào trong nhà để tìm tài sản lấy trộm. S vào phòng ngủ thấy trên bàn trang điểm có ba cái hộp nhựa, S mở hộp nhỏ nhất ra có thấy 01 đôi bông tai vàng 18k, hai hộp kia S không mở ra mà cầm trên tay xác định bên trong có chứa trang sức, S bỏ cả ba hộp vào trong túi quần jean bên phải phía trước, sau đó đi bộ đến chỗ H đang đậu xe chờ sẵn và nói với H là đã lấy được vàng. H chạy xe chở S đến đoạn đường vắng ở khu H Nông trường C, H và S dừng xe lại và mở ra kiểm tra thì thấy trong một hộp có chứa nhiều trang sức màu trắng có đính đá màu trắng (nhẫn, dây chuyền, lắc), hai hộp kia thì chứa các trang sức bằng vàng 18k (bao gồm bông tai, nhẫn, vòng, lắc của trẻ em). S nói với H số trang sức màu vàng là vàng 18k nên đem đi tìm chỗ bán, còn những trang sức màu trắng thì S cho là giả nên kêu H đi vứt bỏ. Lúc này tất cả các trang sức đều do H cất giữ, S và H đến tiệm V ở ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ, H là người đem vàng vào tiệm bán được 17.115.000 đồng gồm: 01 chiếc lắc đeo tay nữ vàng 18k; 01 chiếc nhẫn tròn vàng 18k; 01 tấm lắc trẻ em vàng 18k; 01 đôi bông tai trẻ em vàng 18k. Sau khi bán xong thì H chở S đến quán cà phê Kim P1 ở chợ C1, H đưa cho S 9.000.000 đồng, H giữ 8.115.000 đồng từ tiền bán vàng có được. Đối với số trang sức màu trắng còn lại, trên đường về nhà H đã vứt bỏ cặp mé mương gần nhà tại ấp T, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ. Sau khi bị bắt thì H chỉ chỗ để Công an thu hồi tang vật.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 786/KL-HĐĐG ngày 23/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ, kết luận: 01 (một) chiếc lắc đeo tay nữ vàng 18k; 01 (một) chiếc nhẫn tròn nữ có hột màu trắng vàng 18k; 01 (một) tấm lắc trẻ em vàng 18k hình mắc xích; 01 (một) đôi bông tai trẻ em vàng 18k với tổng số tiền: 17.115.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 993/KL-HĐĐG ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Cần Thơ, kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu trắng, có hình mặt trái tim, có đính hột màu trắng có giá 10.929.800 đồng; 01 (một) sợi lắc đeo tay bằng kim loại màu trắng, có đính hột màu trắng, số tiền: 9.245.000 đồng; 01 (một) chiếc nhẫn tròn bằng kim loại màu trắng, có đính hột màu trắng là kim loại không có giá trị; 03 (ba) nhẫn kiểu màu trắng, có đính hột màu trắng trong đó có 02 chiếc nhẫn là kim loại không có giá trị và 01 chiếc nhẫn là vàng 18k và gắn đá trên nhẫn là kim cương, số tiền: 19.800.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 39.974.000 đồng. Đối với các tài sản không thu hồi được gồm: 01 (một) đôi bông tai đính kim cương, 01 (một) chiếc lắc vàng 18K, 01 (một) chiếc nhẫn kim tiền vàng 18K, 01 (một) chiếc nhẫn trẻ em vàng 18K có hột tròn, 01 (một) chiếc nhẫn trẻ em vàng 18K có kiểu bông hoa nên hội đồng định giá thống nhất không định giá các tài sản trên. Tổng cộng giá trị tài sản bị mất trộm là 57.089.800 đồng.
Quá trình điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Nguyễn Văn S có tiền án về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết tăng nặng tái phạm chưa được xóa án tích.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thanh T đã nhận lại các tài sản thu hồi được và yêu cầu các bị cáo bồi thường các tài sản bị mất không thu hồi được với tổng số tiền 36.115.000 đồng. Gia đình bị cáo H đã tự nguyện giao nộp số tiền 20.008.000 đồng để bồi thường cho bị hại.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS-TL ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 và truy tố bị cáo Cao Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống như hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo H tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 24.115.000đồng, bị cáo S đồng ý bồi thường số tiền còn lại cho bị hại là 12.000.000đồng.
Bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường đối với những tài sản không thu hồi được với số tiền là 36.115.000đồng. Về trách nhiệm bồi thường của mỗi bị cáo bao nhiêu tiền thì do các bị cáo tự thoả thuận, nhưng phải đảm bảo bồi thường đủ số tiền 36.115.000đồng. Về trách nhiệm hình sự thì bị hại không yêu cầu.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Cao Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị áp dụng điểm c, g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn S. Mức án đề nghị: 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Cao Thanh H. Mức án đề nghị: 02 năm đến 03 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 589 của Bộ luật dân sự buộc các bị cáo phải bồi thường giá trị các tài sản không thu được cho bị hại với số tiền 36.115.000đồng. Trong đó bị cáo H tự nguyện bồi thường 24.115.000đồng và bị cáo S phải bồi thường 12.000.000đồng,
Về vật chứng:
Đề nghị tịch thu sung công:
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 65K 1-104.93 màu đen - bạc - xanh, số khung: 121XDY041300, số máy: HC12E5041642 cùng giấy đăng ký xe mô tô tên Cao Thanh H;
- - 01 (một) điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, số imel: 355914053368083, có gắn sim số: 0347348759 của bị cáo Cao Thanh H;
- - 01 (một) điện thoại di động N màu đen, số imel -774219, có gắn sim số: 0939444947 của bị cáo Nguyễn Văn S.
Đề nghị trả lại cho bị cáo S:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu VITORY, biển kiểm soát 68HB-3185 cùng giấy đăng ký xe số 000424 tên Nguyễn Thị Bích C.
Đề nghị tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) áo thun dài tay màu xanh, 01 (một) quần jean ngắn màu trắng - xanh, 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có viền đỏ - trắng có logo HD, 01 (một) đôi dép nhựa quai ngang màu đen, 01 (một) khẩu trang y tế màu xám - trắng, 01 (một) nón bảo hiểm màu cam - đen, 01 (một) quần jean dài màu xanh, 01 (một) nón kết nam màu xanh và 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh - trắng có ghi chữ VIVO.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận do cần tiền tiêu xài cá nhân nên đã nảy sinh ý định tìm những nơi có sự sơ hở về quản lý tài sản của người khác để lấy trộm. Tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại gồm có: Lắc nữ đeo, lắc trẻ em đeo, đôi bông tai, dây chuyền và các loại nhẫn có gắn kim cương. Mặc dù, giá trị tài sản các bị cáo đã bán được có giá 17.115.000đồng, nhưng các tài sản còn lại mà các bị cáo đã vứt trên đường về nhà lại có giá trị là 39.974.800đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 57.089.800đồng.
[3] Lời thừa nhận của các bị cáo phù hợp với những chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra nên hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo S từng bị kết án về tội Trộm cắp tài sản và được xác định tái phạm nhưng chưa được xóa án tích, đến nay bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai truy tố bị cáo S về tội Trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm c, g khoản 2 Điều 173 và truy tố bị cáo H cùng tội danh theo điểm c khoản 2 Điều 173 là có căn cứ.
[4] Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn thực hiện. Hậu quả của hành vi mà bị cáo đã thực hiện không chỉ xâm phạm về quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến an ninh công cộng và trật tự xã hội. Do đó, cần phải có một mức án thật nghiêm khắc và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, đồng thời phòng ngừa chung trong xã hội. Trong vụ án này bị cáo S, H là đồng phạm, nhưng các bị cáo không có sự sắp xếp phân công hay tổ chức việc thực hiện hành vi lấy trộm nên đây chỉ là đồng phạm giản đơn và vai trò của các bị cáo là ngang nhau nên mỗi bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hanh vi đã thực hiện.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn hối cải nên khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015. Ngoài ra, bị cáo H đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hai nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo H bồi thường cho bị hại số tiền 24.115.000đồng. Còn lại 12.000.000đồng, bị cáo S phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại.
[8] Về vật chứng:
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 65K 1-104.93 màu đen - bạc - xanh, số tài sản của bị cáo H đã sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công.
- - 01 điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, có gắn sim số: 0347348759 của bị cáo H và 01 điện thoại di động Nokia màu đen, có gắn sim số: 0939444947 của bị cáo S đã dùng làm phương tiện liên lạc để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công.
- - 01 xe mô tô nhãn hiệu VITORY, biển kiểm soát 68HB-3185 cùng giấy đăng ký xe số 000424 tên Nguyễn Thị Bích C là của bị cáo S không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, do bị cáo S còn phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị hại nên tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
- - 01 (một) áo thun dài tay màu xanh, 01 (một) quần jean ngắn màu trắng – xanh, 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có viền đỏ - trắng có logo HD, 01 (một) đôi dép nhựa quai ngang màu đen, 01 (một) khẩu trang y tế màu xám – trắng, 01 (một) nón bảo hiểm màu cam - đen, 01 (một) quần jean dài màu xanh, 01 (một) nón kết nam màu xanh và 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh - trắng có ghi chữ ViVO là những tài sản không có giá trị sử dụng và các bị cáo không muốn nhận lại nên tịch thu tiêu huỷ.
[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định.
[10] Xét đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S và Cao Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng: Điểm c, g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn S 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.
- - Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17 và Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- - Xử phạt: Bị cáo Cao Thanh H 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 của Bộ luật dân sự 2015
- - Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo H bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Thanh T số tiền 24.115.000đồng và bị hại được nhận số tiền bồi thường này theo biên lai thu số 0002870 ngày 20/5/2024 và biên lai thu số 0002879 ngày 04/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ.
- - Buộc bị cáo Nguyễn Văn S có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh T số tiền 12.000.000đồng.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Tịch thu sung công:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 65K 1-104.93 màu đen - bạc - xanh, số khung: 121XDY041300 cùng giấy đăng ký xe số 010642 của bị cáo Cao Thanh H;
- + 01 (một) điện thoại di động Nokia 1280 màu đen, có gắn sim số: 0347348759 của bị cáo Cao Thanh H;
- + 01 (một) điện thoại di động N màu đen, có gắn sim số: 0939444947 của bị cáo Nguyễn Văn S.
- - Trả lại cho bị cáo S:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu VITORY, biển kiểm soát 68HB-3185 cùng giấy đăng ký xe số 000424 tên Nguyễn Thị Bích C. Tuy nhiên, do bị cáo S còn trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại nên tạm giữ xe mô tô trên để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án.
- - Tịch thu tiêu huỷ:
- 01 (một) áo thun dài tay màu xanh, 01 (một) quần jean ngắn màu trắng – xanh, 01 (một) nón bảo hiểm màu đen có viền đỏ - trắng có logo HD, 01 (một) đôi dép nhựa quai ngang màu đen, 01 (một) khẩu trang y tế màu xám – trắng, 01 (một) cái nón bảo hiểm màu cam - đen, 01 (một) quần jean dài màu xanh, 01 (một) nón kết nam màu xanh và 01 (một) nón bảo hiểm màu xanh - trắng có ghi chữ ViVO.
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
- - Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- - Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Giúp Đở |
Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sang 04 năm 6 tháng tù, Hùng 02 năm tù
