Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NÚI THÀNH

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2024/HS-ST

Ngày: 04/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Thắng
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thanh Dung
  • Bà Nguyễn Thị Kim Cúc
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Tư Thình – Thư ký Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Ông Võ Văn Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 5 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS, ngày 15/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Thị T, sinh năm 1990 tại huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Nội trợ; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn phổ thông: 10/12; Con ông Bùi Văn M, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1967; Chồng tên Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990. Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2016.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  2. Trương K, sinh năm 1960 tại huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn phổ thông: 9/12. Con ông Trương H (đã chết) và bà Lương Thị L, sinh năm: 1939; Vợ tên Ngô Thị L1, sinh năm: 1966; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1985, con nhỏ nhất sinh năm 1989.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  3. Nguyễn Duy L2, sinh năm 1976 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Buôn bán; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn phổ thông: 12/12; Con ông Nguyễn Duy L3, sinh năm 1949 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1951; Vợ tên Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1979; Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  4. Nguyễn Hồng N, sinh năm 1993 tại huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Công nhân; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn phổ thông: 12/12; Con ông Nguyễn H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D1, sinh năm: 1964; Vợ tên Võ Thị Thúy H2, sinh năm 1995; Có 01 con sinh năm 2016.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  5. Nguyễn Thị L4, sinh năm 1967 tại huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam.. Nghề nghiệp: Làm nông; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn phổ thông: 9/12; Con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết) và bà Trương Thị H3, sinh năm 1942; Vợ tên Hoàng Minh N1, sinh năm 1964; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1997.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  6. Lương Thị N2, sinh năm 1958 tại huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Nội trợ; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn phổ thông: 4/12; Con ông Lương Xuân H4 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H5, sinh năm: 1936; Chồng tên Bùi Xuân D2, sinh năm 1957; Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1978, con nhỏ nhất sinh năm 1987.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  7. Phạm Thị N3, sinh năm 1970 tại huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: thôn P, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Nghề nghiệp: Nội trợ; Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn phổ thông: 6/12; Con Phạm S (đã chết) và bà Trương Thị S1 (đã chết); Chồng tên Nguyễn T3, sinh năm 1971; Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2007.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Phan Thị Tổ T4, sinh năm 1987; vắng mặt
  • Địa chỉ: thôn V, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam;
  • - Bà Phan Thị Thúy H6, sinh năm 1983; vắng mặt
  • Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 05/01/2024, Trương K, Bùi Thị T, Phạm Thị N3, Nguyễn Hồng NNguyễn Thị L4 đến nhà của Lương Thị N2 chơi. Khi gặp nhau thì K, T, N3, N, L4N2 cùng rủ nhau đánh bài ăn thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “cào tố”. N2 lấy 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 tấm chăn vải, 01 tấm chiếu lát có sẵn trong nhà đem ra gian nhà sau trải xuống rồi cùng nhau đánh bài. Đến khoảng 13 giờ 40 phút, Nguyễn Duy L2 đến rồi cùng tham gia đánh bài.

Cách thức chơi đánh bạc như sau: mỗi ván người chơi đặt số tiền 10.000 đồng, tùy theo điểm số mà người chơi có thể chọn tố (cược thêm), tối đa mỗi người 50.000 đồng với những người khác, người thắng tối thiểu được 70.000 đồng, thắng tối đa mỗi ván 420.000 đồng, chỉ một người thắng hưởng toàn bộ số tiền của người chơi, còn lại thua, người thắng ván trước được chia bài ván sau.

Bị cáo N2 sử dụng số tiền 1.400.000 đồng để đánh bạc, thắng 30.000 đồng; Bị cáo K sử dụng số tiền 2.080.000 đồng để đánh bạc, thắng 20.000 đồng; Bị cáo T sử dụng số tiền 3.200.000 để đánh bạc, thua 80.000 đồng; Bị cáo N3 sử dụng số tiền 3.790.000 đồng để đánh bạc, không thua, không thắng; Bị cáo N sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc, thua 80.000 đồng; Bị cáo L2 sử dụng số tiền 140.000 đồng để đánh bạc, không thắng, không thua; Bị cáo L4 sử dụng số tiền 1.200.000 đồng để đánh bạc, thắng 110.000 đồng. Các bị cáo đánh bạc đến 14 giờ 20 phút thì bị Công an huyện N bắt quả tang và thu giữ tổng số tiền là 12.610.000 đồng, trong đó: thu giữ của bị cáo N2 số tiền 1.430.000 đồng, thu giữ của bị cáo K 2.100.000 đồng, thu giữ của bị cáo T 3.120.000 đồng, thu giữ của bị cáo N3 số tiền 3.790.000 đồng, thu giữ của bị cáo N số tiền 720.000 đồng, thu giữ của bị cáo L2 số tiền 140.000 đồng, thu giữ của bị cáo L4 1.310.000 đồng.

Tang vật tạm giữ:

  • - Số tiền 12.610.000 đồng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.
  • - 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng.
  • - 01 tấm vải màu trắng.
  • - 01 cái chiếu lát.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Vison BKS: 92N1-395.92.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng,
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Taurus BKS 92L1-8106.
  • - 02 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 92F5-1019.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS-NT, ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành đã truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”, xem xét áp dụng các Điều 35, Điều 46, Điều 47; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, xử phạt:

  • Bị cáo Lương Thị N2 số tiền từ 30 triệu đồng đến 35 triệu đồng
  • Bị cáo Phạm Thị N3 số tiền 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng
  • Bị cáo Bùi Thị T số tiền 25 triệu đồng đến 30 triệu đồng
  • Bị cáo Trương K số tiền 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng
  • Bị cáo Nguyễn Thị L4 số tiền 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng
  • Bị cáo Nguyễn Hồng N số tiền 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng
  • Bị cáo Nguyễn Duy L2 số tiền 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị trả lại cho bị cáo N2 01 điện thoại Oppo màu đen; Trả lại cho bị cáo N3 01 điện thoại Iphone màu vàng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Taurus biển kiểm soát 92L1-8106; Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại Vivo màu xanh; Trả lại cho bị cáo K 01 điện thoại Samsung màu xanh và 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 92N1.39592; Trả lại cho bị cáo L4 01 điện thoại di động Nokia màu đen và 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 92F5-1019; Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại di động Nokia màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng; Trả lại cho bị cáo L2 01 điện thoại di động Oppo màu đen.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh:

Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các chứng cứ chứng minh khác được thu thập có tại hồ sơ nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 05/01/2024, tại nhà của Lương Thị N2 thuộc thôn P, xã T, huyện N, T, Bùi Thị T, Phạm Thị N3, Nguyễn Hồng N, Nguyễn Thị L4, Lương Thị N2Nguyễn Duy L2 đang đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền với hình thức đánh bài “cào tố” thì bị Công an huyện N bắt quả tang và thu giữ tổng số tiền đánh bạc là 12.610.000 đồng.

Hành vi đánh bài ăn thua bằng tiền với số tiền 12.610.000 đồng của các bị cáo đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Cáo trạng số 19/CT-VKS-NT, ngày 04/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra thì thấy:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng – khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ. Đánh bạc gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, có thể là nguyên nhân dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi đánh bài ăn thua bằng tiền là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tương xứng với mức độ và hành vi phạm tội để răn đe giáo dục các bị cáo và để phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình cần cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng, các bị cáo phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử xử phạt tiền đối với các bị cáo cũng đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo Bùi Thị TPhạm Thị N3 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn các bị cáo khác nên phải chịu mức hình phạt cao hơn.

[4] Về vật chứng của vụ án:

  • - 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá đã qua sử dụng, 01 tấm vải màu trắng, 01 cái chiếu lát là công cụ, phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu hủy
  • - Đối với số tiền 12.610.000 đồng bị tạm giữ là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 92F5-1019 của bà Phan Thị Thúy H6 là chủ sở hữu nên trả lại cho bà H6;
  • - Đối với các tài sản 01 điện thoại Oppo màu đen, 01 điện thoại Iphone màu vàng, 01 xe mô tô nhãn hiệu Taurus biển kiểm soát 92L1-8106, 01 điện thoại Vivo màu xanh, 01 điện thoại Samsung màu xanh, 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 92N1.39592, 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng, 01 điện thoại di động Oppo màu đen không liên quan đến hành vi đánh bạc nên trả lại cho các bị cáo.

[5] Bị cáo Lương Thị N2 sử dụng địa điểm của bị cáo để đánh bạc đã xử phạt hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Các Điều 106, 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội,

  1. Tuyên bố các bị cáo Trương K, Bùi Thị T, Phạm Thị N3, Nguyễn Hồng N, Nguyễn Thị L4, Lương Thị N2Nguyễn Duy L2 phạm tội “Đánh bạc”.
    • Xử phạt bị cáo Phạm Thị N3 số tiền 30.000.000 đồng
    • Xử phạt bị cáo Bùi Thị T số tiền 30.000.000 đồng
    • Xử phạt bị cáo Lương Thị N2 số tiền 25.000.000 đồng
    • Xử phạt bị cáo Trương K số tiền 25.000.000 đồng
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L4 số tiền 25.000.000 đồng
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng N số tiền 20.000.000 đồng
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy L2 số tiền 20.000.000 đồng
  2. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 12.610.000 đồng.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, đã qua sử dụng, 01 tấm vải màu trắng, 01 cái chiếu lát.
    • - Trả lại cho bà Phan Thị Thúy H6 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 92F5-1019; Trả lại cho bị cáo Lương Thị N2 01 điện thoại Oppo màu đen; Trả lại cho bị cáo Phạm Thị N3 01 điện thoại Iphone màu vàng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Taurus biển kiểm soát 92L1-8106; Trả lại cho bị cáo Bùi Thị T 01 điện thoại Vivo màu xanh; Trả lại cho bị cáo Trương K 01 điện thoại Samsung màu xanh và 01 xe mô tô Honda Vision biển kiểm soát 92N1.39592; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị L4 01 điện thoại di động Nokia màu đen; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hồng N 01 điện thoại di động Nokia màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Duy L2 01 điện thoại di động Oppo màu đen
    • (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành).
  3. Về án phí: Buộc các bị cáo Trương K, Bùi Thị T, Phạm Thị N3, Nguyễn Hồng N, Nguyễn Thị L4, Lương Thị N2Nguyễn Duy L2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND huyện Núi Thành;
  • - THADS huyện Núi Thành;
  • - Công an huyện Núi Thành;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Nam;
  • - PV06 Công an tỉnh Quảng Nam;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Công Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2024/HS-ST ngày 04/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 28/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương K và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger