|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 28/2024/DS-ST Ngày 02-8-2024 V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đỗ Thị Viện
Bà Lê Thị Mai Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á (Sau đây viết tắt: Ngân hàng A); địa chỉ trụ sở: Số D đường N, phường E, quận C, thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Từ Tiến P, sinh năm 1974, chức vụ: Tổng Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1990, chức vụ: Giám đốc xử lý nợ (theo Giấy ủy quyền số 69/UQ-QLN.22 ngày 20/01/2022);
Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Đào Thị L, sinh năm 1999, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ liên hệ: Số A đường P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội (theo Giấy ủy quyền số 3069/UQ-CNTL.22 ngày 06/10/2023);
Ngày 10/6/2024, Ngân hàng A có Giấy ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Bích L1, sinh năm 1973, chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ; địa chỉ liên hệ: Số A đường P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội thay thế bà L tham gia tố tụng tại Tòa án (theo Giấy ủy quyền số 2548/UQ-CNTL.24 ngày 10/6/2024); có mặt.
Bị đơn: Ông Hoàng Anh D, sinh năm 1978; đăng ký HKTT (theo đơn khởi kiện): Khu Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng từ 2006; đăng ký HKTT: Tổ dân phố số H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng từ ngày 27/7/2022; nơi ở hiện tại: Chấp hành án tại D09, K2 (phân trại số 2) trại giam X, huyện T, thành phố Hải Phòng từ ngày 24/9/2019 do năm 2019, ông D bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 13 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" (theo các biên bản xác minh của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn trong các ngày 21/3/2024, 04/4/2024; sổ gặp phạm nhân và gửi tiền lưu ký cấp ngày 03/4/2021 do gia đình cung cấp); vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - bà L trình bày: Ngân hàng A cấp thẻ tín dụng cho ông Hoàng Anh D căn cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông Hoàng Anh D ký ngày 23/10/2012. Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A. Các văn bản khác của ông Hoàng Anh D ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng. Chi tiết như sau: Ngày cấp 26/11/2012; số thẻ tín dụng: 4791 39** ****5277; loại thẻ: Visa Vàng (Thẻ tín dụng quốc tế); hạn mức thẻ: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); hiệu lực thẻ: Tháng 11/2015; lãi suất, phí: Theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Hoàng Anh D đã không thanh toán đầy đủ cho A theo Thông báo giao dịch hàng tháng. Ông Hoàng Anh D chỉ trả được 3.000.000 đồng (18/02/2013 trả 2.500.000 đồng, 01/9/2013 trả 500.000 đồng). Do đó, ngày 10/5/2023, A đã chuyển khoản nợ thẻ sang nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn và gửi bưu điện thư thông báo chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn và chuyển khoản nợ thẻ sang nợ quá hạn cho ông D. Tính đến ngày 06/10/2023, ông D còn nợ Ngân hàng A tổng số tiền 367.294.784 đồng; trong đó: vốn gốc 51.905.664 đồng (bao gồm vốn gốc + lãi suất phát sinh trong hạn khi khách hàng sử dụng tiền trong thẻ), lãi quá hạn: 315.389.120 đồng.
Tại bản tự khai, phiên hòa giải cùng ngày 12/7/2024, bà L1 trình bày: Ngân hàng A yêu cầu Tòa án buộc ông Hoàng Anh D trả ngay tổng số nợ còn thiếu tính đến ngày 12/7/2024: 297.811.195 đồng; trong đó: Vốn gốc 51.905.664 đồng (bao gồm vốn gốc + lãi suất phát sinh trong hạn khi khách hàng sử dụng tiền trong thẻ), lãi quá hạn 245.905.531 đồng; bớt một phần tiền lãi so với trước đây. Căn cứ vào Bảng kê tính lãi quá hạn KH HOANG ANH DŨNG; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng Á; Thông báo chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn từ ngày 10/5/2013 do ông D vi phạm; Thông báo điều chỉnh lãi suất, cụ thể: Từ ngày 10/5/2013 đến ngày 12/6/2017 (dư nợ: 51.905.664 đồng; tổng cộng 1496 ngày, lãi suất ngày 0,1075% = 83.363.092 đồng); Từ ngày 12/6/2017 đến ngày 01/01/2018 (dư nợ: 51.905.664 đồng; tổng cộng 203 ngày, lãi suất ngày 0,1208% = 12.732.027 đồng); Từ ngày 01/01/2018 đến ngày 13/7/2023 (dư nợ: 51.905.664 đồng; tổng cộng 2019 ngày, lãi suất ngày 0,1192% = 124.895.693 đồng); Từ ngày 13/7/2023 đến ngày 12/7/2024 (dư nợ: 51.905.664 đồng; tổng cộng 365 ngày, lãi suất ngày 0,1315% = 24.914.719 đồng). Lãi suất nợ quá hạn = 150% lãi suất cho vay. Công thức tính: ∑ (Dư nợ * 150% lãi vay * số ngày). Trong đó: + Dư nợ: số dư nợ gốc tại thời điểm chuyển nợ quá hạn và số dư nợ này giảm dần khi khách hàng thanh toán; + Lãi vay: đơn vị tính %/ngày; + Số ngày: số ngày tương ứng theo từng thời điểm số dư nợ gốc thay đổi. Ông D còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất quá hạn do các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ, Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng và các văn bản đã ký với A kể từ ngày 13/7/2024 đến ngày trả dứt nợ.
Tại phiên tòa, bà L1 trình bày: Tính từ ngày 10/5/2023 (ngày Ngân hàng A có Thông báo chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn từ ngày 10/5/2013, chuyển các khoản ông D còn nợ thành nợ quá hạn do ông D vi phạm nghĩa vụ) đến ngày xét xử 02/8/2024, ông D còn nợ Ngân hàng A tổng cộng 299.244.644 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu, hai trăm bốn mươi bốn nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Bớt một phần tiền lãi so với trước đây. Căn cứ vào Bảng kê tính lãi quá hạn KH HOANG ANH DŨNG; Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng Á; Thông báo chấm dứt sử dụng thẻ trước hạn từ ngày 10/5/2013 do ông D vi phạm; Thông báo điều chỉnh lãi suất, cụ thể: Vốn gốc 51,905,664 đồng, L2 quá hạn 247.388.980 đồng (Trong đó: Số tiền lãi từ ngày 10/5/2013-12/6/2017: 51.905.664 x 38.7% x 1494/360 = 83.363.092 đồng; số tiền lãi từ ngày 12/6/2017-1/1/20/2018: 51.905.664 x 43.5% x 203/360 =12.732.027 đồng; số tiền lãi từ ngày 1/1/2018-13/7/2023: 51.905.664 x 43.5% x 2019/365 = 124.895.693 đồng; số tiền lãi từ ngày 13/7/2023-2/8/2024: 51.905.664 x 48% x 386/365 = 26.348.168 đồng). Nên Ngân hàng A yêu cầu ông D trả các khoản nêu trên như sau: Ông Hoàng Anh D trả ngay Ngân hàng A tổng dư nợ còn thiếu tính đến ngày 02/08/2024: 299.244.644₫ (Hai trăm chín mươi chín triệu, hai trăm bốn bốn nghìn, sáu trăm bốn bốn đồng); trong đó: Vốn gốc 51.905.664 đồng (bao gồm vốn gốc + lãi suất phát sinh trong hạn khi khách hàng sử dụng tiền trong thẻ), lãi quá hạn 247.388.980 đồng; phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chạm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng A đến ngày trả hết nợ. Ông Hoàng Anh D phải trả nợ theo thứ tự sau: Vốn gốc, lãi quá hạn; phải chịu toàn bộ tiền án phí.
Tại phiên tòa, tổng số tiền Ngân hàng A yêu cầu ông D trả lãi thấp hơn so với tổng số tiền yêu cầu ông D trả lãi ghi trong đơn khởi kiện do Ngân hàng A tính toán lại về mức lãi suất, giai đoạn tính lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng A rút một phần yêu cầu khởi kiện từ “Yêu cầu ông D trả tổng số tiền 367.294.784 đồng” thành “Yêu cầu ông D trả tổng số tiền 299.244.644 đồng”. Cụ thể: 367.294.784 đồng - 299.244.644 đồng = Rút yêu cầu ông D trả Ngân hàng A khoản tiền lãi quá hạn 68.050.140 đồng (Sáu mươi tám triệu, không trăm năm mươi nghìn, một trăm bốn mươi đồng).
Tại phiên tòa, bị đơn - ông Hoàng Anh D vắng mặt, ông D có bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, thể hiện: Tôi (ông D) thừa nhận việc còn nợ Ngân hàng A số tiền nợ gốc đã vay theo Hợp đồng nợ thẻ tín dụng và các khoản lãi theo Ngân hàng A tính. Nay Ngân hàng yêu cầu trả các khoản theo Hợp đồng mở thẻ tín dụng. Tôi (ông D) sẽ trả khoản nợ theo số tiền gốc theo quý. Còn số tiền lãi, tôi xin Ngân hàng và Tòa án xem xét giảm cho tôi vì hiện tại tôi đang chấp hành án phạt tù tại D09, phân trại số B, Trại giam X, không có thu nhập và gia đình có hoàn cảnh khó khăn do vợ bỏ, bố mẹ già yếu, ốm đau, bệnh tật. Do tôi đang phải chấp hành án phạt tù, nên xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc của Tòa án và xin được vắng mặt trong trong tất cả các phiên xử của Tòa án. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã tống đạt thông báo về việc kiểm tra, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự nhận nhưng không hoà giải được do bị đơn vắng mặt. Tuy nhiên, ông D đã có bản tự khai, có đơn xin vắng mặt tại các buổi làm việc của Tòa án và đề nghị xét xử vắng mặt do đang phải chấp hành án, nên không đến Toà án được. Tòa án ban hành các Văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định, hai bên đương sự đều đã được tống đạt hợp lệ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
I. Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
1. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
2. Nguyên đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; bị đơn đã thực hiện các quyền, chấp hành các nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71, 72, 86 Bộ luật Tố tụng dân sự.
II. Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do Ngân hàng A cung cấp phù hợp với lời khai của ông D, phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng A. Cụ thể như sau:
Mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 10/5/2013 đến ngày 12/6/2017 (1494 ngày) là 0,1075%/ngày nên anh D phải trả cho Ngân hàng A là 51.905.664 đồng x 0,1075%/ngày x 1494 ngày = 83.363.092 đồng.
Mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 12/6/2017 đến ngày 01/01/2018 (203 ngày) là 0,1208%/ngày nên ông D phải trả cho Ngân hàng A là 51.095.664 đồng x 0,1208%/ngày x 203 ngày = 12.732.027 đồng.
Mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 01/01/2018 đến ngày 13/7/2023 (2019 ngày) là 0,1192%/ngày nên ông D phải trả cho Ngân hàng A là 51.095.664 đồng x 0,1192%/ngày x 2019 ngày = 124.895.693 đồng.
Mức lãi suất nợ quá hạn từ ngày 13/7/2023 đến ngày 02/8/2024 (386 ngày) là 0,1315%/ngày nên ông D phải trả cho Ngân hàng A là 51.095.664 đồng x 0,1315%/ngày x 386 ngày = 26.348.168 đồng.
Tổng số tiền ông D phải trả cho Ngân hàng A là 299.244.644 đồng, trong đó gốc: 51.905.664 đồng, lãi: 247.338.980 đồng.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các điều 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 147; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng A đã rút yêu cầu bị đơn - ông Hoàng Anh D trả số tiền lãi quá hạn 68.050.140 đồng.
- Buộc ông Hoàng Anh D phải trả Ngân hàng A 299.244.644 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu hai trăm bốn mươi bốn nghìn sáu trăm bốn bốn đồng), trong đó: nợ gốc 51.905.664 đồng, lãi 247.388.980 đồng.
- Trả lại Ngân hàng A 9.182.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp; ông Hoàng Anh D phải nộp 14.962.232 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết, pháp luật áp dụng: Nguyên đơn - Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn - ông D phải trả các khoản nợ với tổng số tiền 299.244.644 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông Hoàng Anh D ký ngày 23/10/2012. Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A. Các văn bản khác của ông Hoàng Anh D ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng. Chi tiết như sau: Ngày cấp 26/11/2012; số thẻ tín dụng: 4791 39** ****5277; loại thẻ: Visa Vàng (Thẻ tín dụng quốc tế); hạn mức thẻ: 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng); hiệu lực thẻ: Tháng 11/2015, mục đích vay tiền để phục vụ cho tiêu dùng; Xác định đây là loại vụ án dân sự về “Tranh chấp Hợp đồng dân sự”. Nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự thỏa thuận với nhau về việc lựa chọn Tòa án nơi bị đơn đăng ký HKTT để giải quyết tranh chấp tại địa chỉ đăng ký HKTT của bị đơn - ông D: Tổ dân phố số H, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.1] Về việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự: Theo quy định tại các điều 68, 70, 71, 72, 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như đã nêu tại phần căn cước về tư cách tham gia tố tụng của đương sự trong phần đầu của Bản án.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn - ông D vắng mặt tại phiên toà, có đơn xin vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như đề nghị của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - bà L1, Kiểm sát viên tại phiên toà.
[1.3] Về thời hiệu khởi kiện: Quá trình giải quyết vụ án đến trước khi ban hành bản án, không có đương sự nào có yêu cầu về việc áp dụng thời hiệu. Nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về nội dung:
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn - ông D phải trả tổng số tiền còn nợ 299.244.644₫ (Hai trăm chín mươi chín triệu, hai trăm bốn bốn nghìn, sáu trăm bốn bốn đồng); trong đó: Vốn gốc 51.905.664 đồng (bao gồm vốn gốc + lãi suất phát sinh trong hạn khi khách hàng sử dụng tiền trong thẻ), lãi quá hạn 247.388.980 đồng; phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chạm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông Hoàng Anh D ký ngày 23/10/2012. Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A đến ngày trả hết nợ do ông Hoàng Anh D ký với A về việc sử dụng thẻ tín dụng. Ông Hoàng Anh D phải trả nợ theo thứ tự sau: Vốn gốc, lãi quá hạn; được ký kết giữa Ngân hàng A với ông D. Tuy nhiên, quá trình sử dụng thẻ, ông D không trả nợ Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ. Xác định: Đây là quan hệ tranh chấp thuộc loại vụ án Dân sự về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại các điều 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
[3] Xét hình thức, nội dung của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A; thể hiện: Quá trình thực hiện ông D vi phạm nghĩa vụ theo các Văn bản đã ký kết, Ngân hàng A đã ban hành các Văn bản thông báo, đôn đốc trả nợ như đã nêu tại phần nội dung vụ án. Tuy nhiên, đến nay ông D vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ đối với Ngân hàng A. Các đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không bị lừa dối, ép buộc, tự nguyện thể hiện ý chí bằng quyền tự định đoạt trong giao dịch dân sự là phù hợp với quy định tại các điều 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc: Yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc 51.905.664 đồng (bao gồm vốn gốc + lãi suất phát sinh trong hạn khi khách hàng sử dụng tiền trong thẻ) căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông Hoàng Anh D ký ngày 23/10/2012. Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng A. Bị đơn thừa nhận đây là số tiền nợ gốc chưa trả. Xác định yêu cầu này có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật.
[4.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc: Căn cứ thỏa thuận tại Điều 10 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng A về lãi suất quá hạn; Quyết định số 652/2001/QĐ-NHNN ngày 17/5/2001 của Thống đốc Ngân hàng N về việc ban hành quy định phương pháp tính và hạch toán thu, trả lãi của Ngân hàng N và các tổ chức tín dụng; Quyết định số 1327/NVQĐ-TTT.11 ngày 11/11/2011 của Ngân hàng TMCP Á về việc điều chỉnh lãi suất cho vay đối với thẻ tín dụng/thẻ trả trước; Văn bản số 374/NVCV-TTT.17 ngày 09/6/2017 của Ngân hàng A về việc cập nhật Biểu phí, lãi suất của các loại thẻ A phát hành; Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Thống đốc Ngân hàng N quy định phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng; Văn bản số 343/NVQĐ-TTT.20 ngày 28/9/2020 của Ngân hàng A quy định biểu phí, lãi suất số lượng thẻ và hạn mức giao dịch đối với thẻ do A phát hành; khoản 1 Điều 8, khoản 2 Điều 12 Nghị quyết số 01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao: Yêu cầu bị đơn phải trả lãi suất của số tiền nợ gốc 56.639.503 đồng theo mức lãi suất đã thỏa thuận với tổng số tiền 247.388.980 đồng (Trong đó: Số tiền lãi từ ngày 10/5/2013 đến 12/6/2017: 51.905.664 x 38.7% x 1494/360 = 83.363.092 đồng; số tiền lãi từ ngày 12/6/2017 đến 01/01/2018: 51.905.664 x 43.5% x 203/360 = 12.732.027 đồng; số tiền lãi từ ngày 01/01/2018 đến 13/7/2023: 51.905.664 x 43.5% x 2019/365 = 124.895.693 đồng; số tiền lãi từ ngày 13/7/2023 đến 02/8/2024: 51.905.664 x 48% x 386/365 = 26.348.168 đồng); tổng cộng: 299.244.644 đồng (Hai trăm chín mươi chín triệu, hai trăm bốn mươi bốn nghìn, sáu trăm bốn mươi bốn đồng). Xác định yêu cầu này có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật;
[4.2] Xét việc nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu đối với bị đơn: Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn tự nguyện rút một phần yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền lãi quá hạn, như sau: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu, từ “Yêu cầu ông D trả tổng số tiền 367.294.784 đồng” thành “Yêu cầu ông D trả tổng số tiền 299.244.644 đồng”. Cụ thể: 367.294.784 đồng - 299.244.644 đồng = Rút yêu cầu ông D trả khoản tiền lãi quá hạn 68.050.140 đồng. Việc nguyên đơn rút yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền lãi quá hạn 68.050.140 đồng là có lợi cho bị đơn, phù hợp với quy định của pháp luật, được chấp nhận. Vì vậy, đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu của nguyên đơn do nguyên đơn đã tự nguyện rút yêu cầu bị đơn phải trả khoản tiền lãi quá hạn 68.050.140 đồng (Sáu mươi tám triệu, không trăm năm mươi nghìn, một trăm bốn mươi đồng) theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[4.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc: Yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chạm trả lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của A kể từ sau ngày xét xử đến khi trả hết khoản nợ gốc. Xác định yêu cầu này có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật.
[4.4] Từ những phân tích nêu trên, xác định các yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng của ông Hoàng Anh D ký ngày 23/10/2012, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng A đều có căn cứ theo quy định của pháp luật. Nên được chấp nhận toàn bộ.
[5] Xét ý kiến của bị đơn - ông D đối với yêu cầu của nguyên đơn như đã nêu tại phần nội dung vụ án: Ngoài ý kiến trình bày của ông D, ông D không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh cho ý kiến trình bày của ông là hợp pháp, có căn cứ nên đại diện nguyên đơn không đồng ý. Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, sau khi ký các Văn bản nêu trên đến nay đã nhiều năm, nhưng ông D vẫn không thực hiện được một phần nghĩa vụ theo thỏa thuận là vi phạm, nên Ngân hàng có quyền yêu cầu Tòa án buộc ông D phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Do ông D không cung cấp được tài liệu, chứng cứ bằng Văn bản để chứng minh cho ý kiến của ông D đã trình bày, nên không có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận toàn bộ, nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bị đơn - Ông D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228; khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các điều 471, 474, 476 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu của nguyên đơn - Ngân hàng A đã rút yêu cầu bị đơn - ông Hoàng Anh D trả số tiền lãi quá hạn 68.050.140 đồng (Sáu mươi tám triệu, không trăm năm mươi nghìn, một trăm bốn mươi đồng).
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á: Buộc ông Hoàng Anh D phải trả Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á tổng số tiền còn nợ 299.244.644₫ (Hai trăm chín mươi chín triệu, hai trăm bốn bốn nghìn, sáu trăm bốn bốn đồng); trong đó: Vốn gốc 51.905.664 đồng, lãi quá hạn 247.388.980 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 02/8/2024), ông Hoàng Anh D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng, Thẻ tín dụng cấp họ tên chủ sử dụng thẻ: ông Hoàng Anh D của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
- Về án phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á số tiền 9.182.000₫ (Chín triệu, một trăm tám mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006522 ngày 05/3/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Ông Hoàng Anh D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 14.962.232đ (mười bốn triệu, chín trăm sáu mươi hai nghìn, hai trăm ba mươi hai đồng).
- Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ông Hoàng Anh D vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Hoàng |
Bản án số 28/2024/DS-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 28/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng ACB - HAD
