|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01-8-2024. V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tấn Đạt.
- Ông Trần Văn Lô.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 75/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 21/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu Q, sinh năm: 1992; Địa chỉ: 275, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
- Bị đơn: Ông Trần Thiện P, sinh năm: 1992; Địa chỉ: 131, ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Long An.
( Bà Q có mặt. Ông P vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình xét xử, bà Nguyễn Thị Thu Q là nguyên đơn trình bày: Bà và ông Trần Thiện P được tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 14/01/2015. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, sống không hợp nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay tình cảm vợ chồng không còn, bà yêu cầu được ly hôn với ông Trần Thiện P.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung Trần Thiện Phú N, sinh ngày 13/3/2019, hiện nay bà đang nuôi con, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: Bà cam kết không có nợ chung.
- Ông Trần Thiện P là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhiều lần nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Nguyễn Thị Thu Q xin ly hôn với ông Trần Thiện P, việc tranh chấp được quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ thụ lý, giải quyết. Ông Trần Thiện P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên cần áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, để xét xử vắng mặt đối với ông Trần Thiện P.
[2] Bà Nguyễn Thị Thu Q và ông Trần Thiện P được tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 14/01/2015, nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
[3] Qua lời khai trình của bà Nguyễn Thị Thu Q, Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà Q và ông P đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng không hàn gắn, đoàn tụ lại được. Bà Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với ông P. Ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không hợp tác giải quyết việc hôn nhân của các đương sự. Xét thấy giữa hai đương sự đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng cả hai không có thiện chí hàn gắn lại, đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần cho bà Nguyễn Thị Thu Q được ly hôn với ông Trần Thiện P, theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về nuôi con chung: Bà Q khai trình hai đương sự có với nhau 01 người con chung tên Trần Thiện Phú N, sinh ngày 13/3/2019, hiện nay bà Q đang nuôi con. Khi ly hôn, bà Q yêu cầu được tiếp tục giữ nuôi con chung, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu của bà Q phù hợp với thực tế nuôi con hiện nay của đương sự, nên chấp nhận. Bà Q không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Về tài sản chung: Bà Q khai trình không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung: Bà Q cam kết không có nợ chung, nên không xem xét.
[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Ông Trần Thiện P không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Thu Q được ly hôn với ông Trần Thiện P.
- Về nuôi con chung: Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị Thu Q được tiếp tục giữ con chung tên Trần Thiện Phú N, sinh ngày 13/3/2019. Ông Trần Thiện P không phải cấp dưỡng nuôi con; có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chung các đương sự được quyền xin thay đổi tình trạng nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Cho chuyển số tiền tạm ứng án phí bà Q đã nộp là 300.000 đồng sang tiền án phí phải thi hành, theo biên lai thu số 0009476 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Văn Thái |
Bản án số 28/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 28/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu Q "Ly hôn" Trần Thiện P
