Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 21/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan; Ông Phạm Ngọc Trường.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Công Luật - Kiểm sát viên.

Ngày 21/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 07/02/2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn B; tên gọi khác: Không; giới tính: nam; sinh năm 1991 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi thường trú: ấp K, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Văn T (đã chết); con bà: Tạ Thị T1; vợ: Hoàng Thị T2; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2022; Gia đình bị cáo có 02 anh, em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 29/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/3/2021; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H từ ngày 24/8/2024. Có mặt.
  2. Họ và tên: Nguyễn Văn C; tên gọi khác: Không; giới tính: nam; sinh năm 1992 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi thường trú: thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Tiến D (đã chết); con bà: Đỗ Thị N; vợ: Phạm Mai N1; Bị cáo có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; gia đình bị cáo có bốn chị em, bị cáo là con thứ tư; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 27/02/2008 bị Công an huyện K, tỉnh Hưng Yên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản; ngày 26/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/8/2021; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H từ ngày 24/8/2024. Có mặt.
  3. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; tên gọi khác: Không; giới tính: nam; sinh năm 1984 tại huyện V, tỉnh Hưng Yên; nơi thường trú: thôn B, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông: Nguyễn Tuấn A (đã chết); con bà: Phạm Thị X; vợ: Bùi Thị Thanh T3; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2010; Gia đình bị cáo có 02 chị, em, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: chưa; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H từ ngày 23/8/2024. Có mặt.

Người làm chứng:

  • Ông Lê Văn C1, sinh năm 1987; trú tại: Thôn E, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Ông Đàm Xuân T4, sinh năm 1961; trú tại: Thôn B, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Bà Đỗ Thị N, sinh năm 1960; trú tại: Thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1994; trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
  • Ông Bì Văn Đ1, sinh năm 1996; trú tại: Thôn P, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên (Tất cả đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, tại khu vực đoạn đường bê tông thuộc địa phận thôn G, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984, Nơi thường trú thôn B, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên; Chỗ ở hiện nay: Đường Đ, khu đô thị V thuộc thôn A, xã N, huyện V, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác. Vật chứng thu giữ: Tại túi quần phía sau bên trái của Đ 02 túi nilon, kích thước (1,5x2) cm, bên trong đều chứa tinh thể kết tinh màu trắng, niêm phong ký hiệu MT1. Tại chiếc giày bên trái của Đ có 01 túi nilon, kích thước (5x6,5) cm, bên trong chứa tinh thể kết tinh màu trắng, niêm phong ký hiệu MT2. Ngoài ra còn quản lý của Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động Redmi. Nguyễn Văn Đ khai nhận các túi nilon, bên trong có chứa tinh thể kết tinh màu trắng là ma túy đá, Đ mua của Nguyễn Văn B, sinh năm 1991, trú tại ấp K, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên với số tiền 2.500.000 đồng để sử dụng và bán trái phép cho người khác nhằm kiếm lời.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn Đ, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn B, thu giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone. B khai có bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ vào ngày 23/8/2024, ngoài ra B còn đưa ma túy đá cho Nguyễn Văn C sinh năm 1992, trú tại thôn B, xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên để bán kiếm lời.

Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn C, thu giữ: Tại túi quần phía trước bên trái của C 01 hộp sắt (loại hộp đựng thuốc lá T), kích thước (9x8x1,6) cm, trong có 05 túi nilon đều chứa tinh thể kết tinh màu trắng, niêm phong ký hiệu MT3; tại túi quần bên phải của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn C thu giữ: Tại ngăn kéo tủ trong phòng ngủ 01 túi nilon, kích thước (4x4) cm trong có 10 viên nén hình trụ tròn màu trắng đục, niêm phong ký hiệu MT4 và 02 túi nilon gồm: 01 túi nilon, kích thước (6x10) cm, 01 túi nilon, kích thước (6x6) cm bên trong đều chứa tinh thể kết tinh màu trắng, niêm phong ký hiệu MT5.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn B thu giữ: Tại tủ trong phòng ngủ của Bằng 01 túi nilon, kích thước (7x11,5) cm trong có chứa tinh thể kết tinh màu trắng, niêm phong ký hiệu MT6; 01 khẩu súng (dạng súng ổ quay) màu nâu bạc, trên nòng súng dập chữ “SMITH&WESSON” cùng 06 viên đạn màu vàng, niêm phong ký hiệu B1 và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn B.

Tại bản Kết luận giám định số 570/KL- KTHS(MT) ngày 27/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận:

  • Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT1, có tổng khối lượng 0,456 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
  • Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT2, có tổng khối lượng 2,062 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
  • Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT3, có tổng khối lượng 0,976 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
  • Mẫu chất dạng viên nén màu trắng đục trong niêm phong ký hiệu MT4, có tổng khối lượng 3,861 gam, là ma túy, loại MDMA.
  • Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT5, có tổng khối lượng 12,292 gam, là ma túy, loại Ketamine.
  • Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu MT6, có tổng khối lượng 2,472 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Tại bản Kết luận giám định số 6861/KL-KTHS ngày 17/9/2024 của V1 Bộ C2 kết luận:

  • Khẩu súng gửi giám định là súng tự chế kiểu ổ quay bắn đạn cỡ 5,6mm, thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại, khẩu súng còn sử dụng để bắn được.
  • 06 viên đạn gửi giám định là đạn cỡ 5,6x15,5mm, thuộc vũ khí thể thao, sử dụng lắp, bắn được cho khẩu súng nêu trên.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Chiều ngày 20/8/2024, tại khu vực đường đê thuộc xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn B đã mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) 2.000.000 đồng ma túy tổng hợp (ma túy đá) với mục đích để sử dụng và bán trái phép cho người khác. Đến khoảng 16 giờ ngày 23/8/2024, Nguyễn Văn Đ liên hệ với Nguyễn Văn B thông qua ứng dụng mạng xã hội Facebook hỏi mua ma túy đá để sử dụng và bán cho người khác kiếm lời, B đã chia số ma túy đá mua được thành 09 túi nilon, sau đó bán cho Đ 03 túy ma túy đá với giá 2.500.000 đồng. Số ma túy còn lại B đưa 05 túi nilon ma túy đá cho Nguyễn Văn C để C giúp B bán ma túy trái phép cho người khác và cất giấu 01 túi nilon tại nơi ở. Khoảng 06 giờ ngày 24/8/2024, Nguyễn Văn B đi bộ đến khu vực đường đê thuộc xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên mua 10 viên ma túy loại Kẹo và 02 túi ma túy loại Ketamine của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) với số tiền 3.350.000 đồng được. Sau đó B cầm số ma túy vừa mua được đến nhà Nguyễn Văn C để tại giường ngủ của C để cùng C bán kiếm lời. Một lúc sau có Nguyễn Văn V và Bì Văn Đ1 đến nhà C chơi; B và C bị Cơ quan điều tra phát hiện bắt giữ, do lo sợ B đã vứt túi ma túy tổng hợp (Ketamine và K) vào ngăn kéo tủ trong phòng ngủ của C đã bị Cơ quan điều tra khám xét, thu giữ.

Về hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, Nguyễn Văn B khai: Ngày 20/8/2024, Nguyễn Văn B đặt mua một khẩu súng kiểu ổ côn quay cùng 06 viên đạn thông qua nền tảng mạng xã hội Youtube với giá tiền là 165.000 đồng và cung cấp địa chỉ nhận hàng tại Ấp K, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên. Chiều ngày 21/8/2024 có S (không biết tên, địa chỉ) đến giao cho B 01 gói bưu phẩm được bọc kín, Bằng thanh toán số tiền 165.000 đồng. Bằng mở gói bưu phẩm thì thấy có một khẩu súng (dạng súng ổ quay) màu nâu bạc, trên nòng súng có dập chữ “SMITH & WESSON” cùng sáu viên đạn màu vàng. Bằng cất súng, đạn vào ngăn tủ trong phòng ngủ, chưa sử dụng đã bị Cơ quan điều tra khám xét, thu giữ.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nguyễn Văn B tại khu vực đường đê thuộc địa phận xã L, huyện V, tỉnh Hưng Yên, do Bằng không biết tên tuổi địa chỉ nên chưa đủ căn cứ xác minh, xử lý.

Nguyễn Văn V và Bì Văn Đ1 dương tính với chất ma túy; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh H đã chuyển tài liệu đến Công an huyện V, tỉnh Hưng Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Về vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 570/KL-KTHS(MT), bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh H; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn B hiện đang quản lý tại kho vật chứng của Công an tỉnh H; 01 phong bì niêm phong số 6861/KL-KTHS, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định của V1 Bộ C2 hiện đang quản lý tại Kho vật chứng của Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh H.

Cáo trạng số 19/CT-VKS-P1 ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn C về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 17 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 10 năm đến 10 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành chung từ 11 năm 09 tháng đến 12 năm 06 tháng, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/8/2024.

Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/8/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/8/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp và án phí theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo nhất trí, không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm quay lại với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên, cùng Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình, đồng thời không có khiếu nại hay ý kiến phản đối về hành vi, quyết định của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án được xác định là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trước Cơ quan điều tra và phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Kết luận giám định; Lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, tại Ấp K, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn B đã bán 2,518 gam ma túy, loại Methamphetamine với giá 2.500.000 đồng cho Nguyễn Văn Đ, sau đó Nguyễn Văn Đ mang số ma túy trên đến khu vực đường bê tông thuộc địa phận thôn G, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên nhằm bán trái phép cho người khác thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang.

Ngoài ra ngày 24/8/2024 tại nơi ở của mình - Ấp K, xã T, huyện V, Nguyễn Văn B còn tàng trữ trái phép 2,472 gam ma túy loại Methamphetamine; tàng trữ trái phép 01 khẩu súng (dạng súng ổ quay) màu nâu bạc, nhãn hiệu “SMITH&WESSON” là vũ khí quân dụng. Nguyễn Văn B cùng với Nguyễn Văn C tàng trữ 0,976 gam ma túy loại Methamphetamine; 3,861 gam ma túy loại MDMA; 12,292 gam ma túy loại Ketamine nhằm bán trái phép cho người khác.

Trong vụ án này, Nguyễn Văn B giữ vai trò chính, phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy là: 5,966 gam ma túy loại Methamphetamine; 3,861 gam ma túy loại MDMA; 12,292 gam ma túy loại Ketamine; Nguyễn Văn C phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy là: 0,976 gam Methamphetamine; 3,861 gam MDMA; 12,292 gam Ketamine; Nguyễn Văn Đ chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy là: 2,518 gam Methamphetamine.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Nguyễn Văn B về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn C về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cá nhân bị cáo B các bị cáo khác nhận thức được việc tàng trữ vũ khí quân dụng; việc tàng trữ, mua bán ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì mục đích cá nhân, động cơ lợi nhuận từ việc mua bán các chất ma túy và thỏa mãn nhu cầu của bản thân, các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội do đó phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi phạm tội của mình.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm chế độ quản lý vũ khí quân dụng, quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội, có nguy cơ cao xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của con người, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo C có bố đẻ tham gia và hoàn thành nghĩa vụ với quân đội giai đoạn 1977-1981, có chứng nhận của cấp có thẩm quyền, vì vậy bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Về đặc điểm nhân thân: Các bị cáo B và C có nhân thân xấu, đều đã bị kết án về các tội danh liên quan đến ma túy.

[5] Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 (một) phong bì niêm phong số 570/KL-KTHS (MT), bên trong chứa mẫu vật ma túy hoàn lại sau giám định của Phòng K1 Công an tỉnh H là vật chứng của vụ án không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 phong bì niêm phong số 6861/KL-KTHS, bên trong chứa 01 khẩu súng ổ quay dài 19cm, hiệu “SMITH&WESSON” là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với số tiền 2.500.000 đồng là số tiền Nguyễn Văn B có được do bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ. Do vậy cần truy thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn B số tiền trên.
  • Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn Đ; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng đen thu giữ của Nguyễn Văn B. Đây là công cụ bị cáo dùng để liên lạc và chuyển tiền mua bán ma túy nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn B là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
  • Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen thu giữ của Nguyễn Văn C là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Đ phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 251; khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, Điều 51; khoản 1 Điều 55; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho hai tội là 12 (mười hai) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/8/2024.

Áp dụng: Điểm p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 24/8/2024.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/8/2024.

2. Về vật chứng và biện pháp tư pháp

Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 6861/KL-KTHS, bên trong chứa 01 khẩu súng ổ quay dài 19 cm, hiệu “SMITH&WESSON”

( Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/11/2024 giữa Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh H và Công an tỉnh H);

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong hoàn mẫu vật giám định ghi số 570/KL-KTHS có 02 chữ ký của Phòng K1 Công an tỉnh H.

- Tịch thu phát mại, sung ngân sách nhà nước: 01 phong bì ký hiệu ĐT1 niêm phong điện thoại Redmi màu trắng đen bên trong lắp sim liên lạc có 05 số hàng cuối trên sim là 60574 thu giữ của Nguyễn Văn Đ được dán kín có 04 chữ ký và hai hình dấu của cơ quan CSĐT Công an tỉnh H; 01 phong bì ký hiệu ĐT2 niêm phong điện thoại di động kiểu dáng IPHONE màu vàng đen bên trong lắp sim liên lạc có 04 số hàng cuối trên sim là 1987 thu giữ của Nguyễn Văn B được dán kín có 04 chữ ký và hai hình dấu của cơ quan CSĐT Công an tỉnh H.

- Trả lại bị cáo 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn B; 01 phong bì ký hiệu ĐT3 niêm phong điện thoại di động kiểu dáng IPHONE màu đen bên trong lắp 01 sim liên lạc đã bị cắt gọn thu giữ của Nguyễn Văn C được dán kín có 04 chữ ký và hai hình dấu của cơ quan CSĐT Công an tỉnh H.

(Số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng các vật chứng nêu trên được mô tả theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H).

- Truy thu sung ngân sách nhà nước số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu đồng) của Nguyễn Văn B.

3. Về án phí:

Bị cáo Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THẨM PHÁN

Nguyễn Duy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 23/8/2024, tại Ấp K, xã T, huyện V, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn B đã bán 2,518 gam ma túy, loại Methamphetamine với giá 2.500.000 đồng cho Nguyễn Văn Đ, sau đó Nguyễn Văn Đ mang số ma túy trên đến khu vực đường bê tông thuộc địa phận thôn G, xã X, huyện V, tỉnh Hưng Yên nhằm bán trái phép cho người khác thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh H bắt quả tang. Ngoài ra ngày 24/8/2024 tại nơi ở của mình - Ấp K, xã T, huyện V, Nguyễn Văn B còn tàng trữ trái phép 2,472 gam ma túy loại Methamphetamine; tàng trữ trái phép 01 khẩu súng (dạng súng ổ quay) màu nâu bạc, nhãn hiệu “SMITH&WESSON” là vũ khí quân dụng. Nguyễn Văn B cùng với Nguyễn Văn C tàng trữ 0,976 gam ma túy loại Methamphetamine; 3,861 gam ma túy loại MDMA; 12,292 gam ma túy loại Ketamine nhằm bán trái phép cho người khác.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger