Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN U

TỈNH C

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HSST

Ngày 29-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U TỈNH C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Việt Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Đẳng;

Ông Đỗ Minh Lắm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Gia Mẫn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U, tỉnh C tham gia phiên tòa: Bà Phạm Tuyết Trân - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U, tỉnh C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Hữu L, 14/6/2000. Nơi sinh: thành phố C, tỉnh C. Nơi cư trú: Khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh C. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 8/12. Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thiện P (đã chết) và bà Bùi Thị L1, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không (Về nhân thân tại Bản án phúc thẩm số 143/2016/HSPT ngày 19/12/2016 của Toà án nhân dân tỉnh C tuyên phạt Nguyễn Hữu L 01 năm 03 tháng tù về tội cướp giật tài sản, chấp hành xong ngày 07/8/2017, đã được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 13/02/2025 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ ngày 22/01/2025, trong quá trình cán bộ của Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh C kiểm tra cơ thể của Nguyễn Hữu L để thực hiện đưa vào cơ sở Cai nghiện thì phát hiện L đang ngậm trong miệng 01 gói nilon chứa ma túy loại Heroine. Công an xã K lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong tang vật. Tại cơ quan điều tra Nguyễn Hữu L khai nhận: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/01/2025, L điều khiển xe Nouvo biển kiểm soát 59D1-581.45 từ bến xe phường F, thành phố C, tỉnh C đến hẻm B (Xóm K) thuộc khóm B, phường H, thành phố C để mua ma túy của một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 200.000 đồng, ma túy loại Heroine. Sau khi mua ma túy, L cầm trên tay chạy về bến xe phường F để sử dụng, khi đến đoạn đường thuộc phường G, thành phố C thấy lực lượng tuần tra nên L ngậm gói ma túy vào miệng nhằm che giấu. Tiếp đó, tổ tuần tra Công an phường G dừng xe của L kiểm tra và mời L về trụ sở làm việc do nghi vấn đối tượng có sử dụng trái phép chất ma túy. Tại đây, Công an phường G tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả Linh dương tính với chất ma túy. Qua xem xét Nguyễn Hữu L đủ điều kiện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nên Công an phường G giao L cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh C quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Khi L bị đưa đến Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh C kiểm tra thân thể thì phát hiện L đang ngậm gói ma túy trong miệng.

Theo bản Kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 26/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh C kết luận: Chất bột màu trắng bên trong bọc nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì hình chữ nhật gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7509gam, loại Heroine (H). (Heroine (H) có tên khoa học là D là chất ma túy năm trong danh mục IA, STT 9, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ).

- Vật chứng vụ án: 01 phong bì hoàn mẫu số 45/KL-KTHS ngày 26/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh C đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện U quản lý.

- Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Hữu L khai: Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 22/01/2025, bị cáo L điều khiển xe môt tô từ bến xe phường F, thành phố C, tỉnh C đến hẻm B (Xóm K) để mua ma túy của một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 200.000 đồng, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Sau khi mua, trên đường về khi đến đoạn đường thuộc phường G, thành phố C thấy lực lượng tuần tra nên bị cáo ngậm gói ma túy vào miệng nhằm che giấu. Tiếp đó, tổ tuần tra Công an phường G dừng xe của bị cáo kiểm tra và mời bị cáo về trụ sở làm việc do nghi vấn có sử dụng ma túy. Tại Công an phường G, tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, kết quả dương tính với chất ma túy nên đưa bị cáo đưa đến Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh C để quản lý chờ thực hiện thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện. Khi kiểm tra thân thể thì phát hiện bị cáo đang ngậm gói ma túy trong miệng. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện U truy tố bị cáo về hành vi tàng trữ ma túy là đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Tại Cáo trạng số 35/CT-VKS, ngày 26 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện U giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn mẫu số 45/KL-KTHS ngày 26/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh C.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã nhận biết lỗi sai của mình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về gia đình để chăm sóc mẹ vì cha bị cáo đã mất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện U, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện U, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến phản đối hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là tài liệu, chứng cứ hợp pháp.

  2. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

    Vào lúc 14 giờ ngày 22/01/2025, tại ấp A, xã K, huyện U, tỉnh C, khi kiểm tra thân thể bị cáo để đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh C quản lý thì phát hiện bị cáo Nguyễn Hữu L tàng trữ ma túy loại Heroin trọng lượng 0,7509gam trong miệng, mục đích sử dụng cá nhân.

    Xét thấy, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên hành vi tàng trữ ma túy trọng lượng là 0,7509 gam nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cáo trạng số 35/CT-VKS, ngày 26 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

  3. Xét tính chất mức độ hành vi do bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện trong đó có ma túy loại Methamphetamine là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất an ninh trật tự xã hội; an ninh trật tự tại địa phương, do đó, cần có một mức án nghiêm khắc cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian lao động, học tập trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện tính răn đe và phòng ngừa chung. Đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt tù đối với bị cáo là có cơ sở.

  4. Xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi của mình, bị cáo có cha là người có công tham gia cách mạng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng nên Hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.

  5. Vật chứng vụ án: ma túy còn lại là vật cấm nên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì hoàn mẫu số 45/KL-KTHS ngày 26/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh C.

  6. Về án phí: Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Hữu L phải nộp 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/02/2025.

- Vật chứng vụ án: tịch thu tiêu hủy 1 phong bì hoàn mẫu số: 45/KL-KTHS ngày 26/01/2025 của Phòng K - Công an tỉnh C. được niêm phong kín. Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện U quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 27/QĐ-VKS ngày 26 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện U và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện U và Chi cục Thi hành án dân sự huyện U.

- Buộc bị cáo Nguyễn Hữu L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

- Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh C;
  • - VKSND tỉnh C;
  • - VKSND huyện U, tỉnh C;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

4

  • - Chi cục THA DS H.U Minh, tỉnh C;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh C;
  • - Cơ quan THA HS Công an tỉnh C.
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

Huỳnh Việt Hằng

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HSST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U TỈNH C về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 28/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U TỈNH C
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: L bị phát hiện tàng trữ ma túy để sử dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger