Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ GIÁ RAI

TỈNH BẠC LIÊU

Bản án số: 28/2025/HSST

Ngày 26 tháng 5 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Khang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Quốc Lâm

Ông Nguyễn Thành Nhạn

Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

  • - Họ và tên: NGUYỄN MINH S, sinh ngày 26/6/1986; tại tỉnh Bạc Liêu; Tên gọi khác: Lê Minh S1
  • ĐKHKTT: Khóm C, phường H, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (chết) và bà Nguyễn Thu P; Tiền án: 03; Bản án số 36/2006/HSST ngày 13/4/2006 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” (chưa nộp án phí); Bản án số 56/2010/HSST ngày 27/4/2010 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa nộp án phí); Bản án số 124/2019/HSST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” ( nộp án phí ngày 20/02/2025); Tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tính từ ngày 02/12/2024 (có mặt).
  • - Bị hại: Ông Ngô Hoàng R, sinh năm 1972; Địa chỉ: Khóm G, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Chí T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Khóm G, phường L, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 01/12/2024, Nguyễn Minh S ngủ thức giấc và nghĩ bản thân không có tiền tiêu xài nên nảy sinh ý định đi tìm tài sản lấy trộm. Sau đó, S đi từ phường H hướng đến xã P để tìm tài sản lấy trộm. Đến khoảng 05 giờ ngày 02/12/2024, Nguyễn Minh S đi ngang nhà ông Ngô Vũ P1 thuộc Khóm G, phường L, thị xã G thì phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Hon da, loại Wave RSX màu trắng – xám, biển số 94D-275.08 của Ngô Hoàng R (xe ông R mượn của Ngô Chí T) đậu trước lộ chìa khóa xe vẫn còn cắm trong ổ khóa. Do thấy xe không có người trông giữ nên Nguyễn Minh S ngồi lên xe khởi động máy chạy xe đi thì bị ông R phát hiện truy hô và đuổi theo, Nguyễn Minh S chạy xe được khoảng 300m thì bị ngã xe; Sau khi bị ngã xe S nhảy xuống kênh để trốn. Lúc này người dân báo Công an phường L, đến khoảng 5 giờ 45 phút cùng ngày thì phát hiện Nguyễn Minh S đang lẫn trốn trong bụi cây cỏ nên bắt giữ cùng tang vật.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thị xã G kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Hon da, loại Wave RSX màu trắng – xám, biển số 94D-275.08 có giá trị thành tiền bằng 4.000.000 đồng.

Cáo trạng số 21/CT-VKS-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Minh S, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Minh S và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S, phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề nghị giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Minh S khai nhận: Vào khoảng 5 giờ ngày 02/12/2024, tại Khóm G, phường L, thị xã G, bị cáo thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển kiểm soát 94D1-275.08 của bị hại Ngô Hoàng R. Lời khai bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm là phù hợp với lời khai bị hại cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ chấp nhận.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Minh S là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương. Tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại có giá trị bằng 4.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Minh S đã đủ yếu tố, dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Mặt khác, bị cáo đã 3 lần bị kết án chưa được xóa án tích; Trong đó, Bản án số 124/2019/HSST ngày 13/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang bị cáo phải chịu tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm”. Do đó, lần phạm tội này Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật; Cần phải được xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như để đảm bảo công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để áp dụng mức án phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi giao lại cho bị hại; Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không giải quyết.

[6] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh S, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh S 02 (hai) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 02/12/2024.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Minh S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND thị xã Giá Rai;
  • - CCTHADS thị xã Giá Rai;
  • - CQCSĐT;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Quang Khang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HSST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 28/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh S có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger