Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRỰC NINH

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 28/2025/HSST.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Chuyết.
  2. Bà Hoàng Thị Thu Hường.

- Thư ký phiên toà: Ông Đào Đức Tài - Thẩm tra viên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đặng Trung Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST - HS ngày 27 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 24/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh năm 1976 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Trú tại: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Nguyễn Tuấn T1, sinh năm 1940; Con bà Trần Thị D (đã chết); Gia đình có 4 chị em, bị cáo là thứ 4; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
  2. Bị cáo Ninh Quang T2, sinh năm 1976 tại Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Trú tại: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông Ninh Văn T3, sinh năm 1955; Con bà Ninh Thị T4, sinh năm 1955; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ Đào Thị H, sinh năm 1980; Có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024; Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Văn A, sinh năm 1987; Trú tại: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định (vắng mặt).
  4. Người làm chứng: Anh Bùi Thanh H1, sinh năm 1989 (vắng mặt); Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1980 (vắng mặt); Anh Trần Đức M, sinh năm 1990 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có việc làm ổn định, để có thêm thu nhập Nguyễn Văn T, Trần Văn ANinh Quang T2 đã thực hiện việc bán các số lô, số đề cho người chơi. Hàng ngày A và T5 bán số lô, số đề cho khách rồi chuyển lại cho T qua tài khoản “LP” trên ứng dụng Zalo của T, đăng ký bằng số điện thoại 0823.197.xxx để hưởng hoa hồng. Ngoài việc nhận số lô, số đề do A và T5 chuyển đến Tốn còn trực tiếp nhận bán các số lô đề cho khách qua ứng dụng Zalo “LP” của mình. Hành vi bán số lô, số đề cho người chới là hình thức đánh bạc dựa vào kết quả Xổ số miền B mở thưởng trong ngày. Cụ thể quy định như sau:

- Về số đề: Người chơi chọn một số có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 và bỏ ra một số tiền để đặt cược sau đó so sánh với hai số hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt ngày hôm đó. Nếu kết quả xổ số trong ngày có hai số hàng chục và hàng đơn vị trong giải đặc biệt trùng với số người chơi chọn thì được gọi là “trúng đề”, khi đó T sẽ phải trả cho người chơi số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi đã bỏ ra. Ngược lại người chơi sẽ mất số tiền đã đặt cược. Để khuyến khích người chơi mua số đề, T chỉ thu của người chơi 85% số tiền đề đã mua.

- Về số lô: Người chơi cũng chọn một số có hai chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 để đặt cược theo điểm, mỗi điểm lô T bán với giá 23.000 đồng. Khi có kết quả, người mua số lô so sánh các số lô đã mua với hai số cuối của tất cả 27 giải kết quả xổ số ngày hôm đó. Nếu số mà người chơi mua trùng với hai số hàng chục và hàng đơn vị của bất kỳ giải nào trong 27 giải nêu trên thì được gọi là “trúng lô”, khi đó T phải trả cho ngươi chơi số tiền tương ứng 1 điểm lô là 80.000 đồng, nếu trùng bao nhiêu giải thì lại nhân tiếp số tiền với bấy nhiêu lần. Ngược lại, người chơi sẽ mất số tiền đã bỏ ra để mua các điểm lô của số lô đó. Để khuyến khích người chơi mua số lô, T chỉ thu của người chơi 21.800 đồng/01 điểm.

- Về lô xiên: Người chơi cũng chọn cặp hai số, mỗi số gồm có hai chữ số, sau đó so sánh các cặp số đã chọn với hai số cuối của tất cả 27 giải kết quả xổ số ngày hôm đó. Nếu tất cả các số trong cặp số người chơi đã chọn trùng với hai số hàng chục và hàng đơn vị của một trong 27 giải kết quả xổ số gọi là “trúng lô xiên”, khi đó T phải trả cho người chơi theo tỷ lệ là 1.000 đồng ăn 11.000 đồng. Để khuyến khích người chơi mua số lô xiên, T chỉ thu của người chơi 80% số tiền lô xiên đã mua.

Khoảng 16 giờ ngày 18/12/2024, Văn A sử dụng giấy kẻ ô ly để cắt nhỏ thành nhiều mảnh có kích thước khoảng 8 x 10cm, bút bi rồi ngồi tại quán bia của mình ở đầu cầu ông T6 thuộc thôn A để bán số lô đề cho người chơi. Khi có người mua, A viết vào mảnh giấy trắng chuyển cho khách rồi sử dụng điện thoại di động Iphone 12 pro max chụp lưu lại. Chiều ngày 18/12/2024, Văn A đã bán cho khách đến mua trực tiếp tại quán bia của mình các số lô gồm: 37, 73, 81, 18, 68, 86 mỗi số 5 điểm; 39, 93, 33, 21, 72 mỗi số 10 điểm; 98, 99 mỗi số 25 điểm; 89 = 20 điểm, tổng cộng 150 điểm lô tương ứng với tổng số tiền là 3.450.000 đồng. Các số đề: 56, 65 mỗi số 5.000 đồng; 18, 68, 81, 86, 98 mỗi số 20.000 đồng; 14, 41, 36, 69, 98 mỗi số 50.000 đồng; 01, 10 mỗi số 45.000 đồng; 27, 47 mỗi số 25.000 đồng; 48 = 10.000 đồng; 99 = 30.000 đồng; 11 = 40.000 đồng, tương ứng với tổng số tiền 580.000 đồng và các số lô xiên 24-99 = 50.000 đồng; 27-72 = 50.000 đồng tương ứng với tổng số tiền là 100.000 đồng. Sau đó Văn A sử dụng tài khoản “Lộc Trời” trên ứng dụng Zalo của mình chuyển các hình ảnh đã chụp và nhắn tin chuyển các số lô đề trên đến tài khoản “LP” của T. Tốn mở đọc kiểm tra, đồng ý rồi xác nhận lại “ok”. Tổng số tiền Văn A và T đánh bạc với nhau trong chiều ngày 18/12/2024 là 4.130.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 45 phút cùng ngày, Bùi Thanh H1 đến quán bia của Văn A mua các số đề “đầu 3” gồm các số: 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, mỗi số 30.000 đồng. Văn A ghi các số đề H1 mua vào mảnh giấy trắng đưa cho H1, H1 lấy 300.000 đồng trả cho Anh thì bị tổ công tác của Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang, Văn A chưa kịp chuyển cho T các số lô đề này.

Khoảng 16 giờ ngày 18/12/2024, T2 ngồi tại nhà ở của mình ở thôn A bán số lô, số đề cho người chơi. Khi có khách đến mua, T2 ghi các số lô, đề cho khách vào mảnh giấy kẻ ly để đưa cho khách, rồi sử dụng điện thoại Iphone 8 Plus, màu đen, chụp lại và sử dụng tài khoản Zalo tên “Jack” trên ứng dụng Zalo đăng ký bằng số điện thoại 0818.171.xxx để gửi hình ảnh số lô, số đề đến tài khoản “LP” của T. Sau mỗi tin nhắn T2 gửi thì T đều trả lời “ok” để xác nhận việc nội dung các số lô, đề T2 chuyển. Chiều ngày 18/12/2024, T2 bán số lô, số đề cho 15 người chơi đến mua trực tiếp tại nhà của T2 tổng số: 159 điểm lô x 23.000/01 điểm = 3.657.000 đồng; số tiền đề là 5.600.000 đồng. T2 đã chuyển cho T qua 15 tin nhắn trên ứng dụng Zalo. Tuy nhiên, T mới kiểm tra và xác nhận 11 tin nhắn của T2 tổng số 135 điểm lô gồm các số: 88 = 50 điểm; 04 = 20 điểm; 58 = 15 điểm; 37, 53, 65, 87 mỗi số 10 điểm = 40 điểm; 68, 86 mỗi số 5 điểm = 10 điểm, tương ứng với tổng số tiền lô là 3.105.000 đồng và 4.640.000 đồng tiền đề gồm các số: 01, 02, 05, 07, 08, 09 mỗi số 5.000 đồng; 10, 18, 21, 23, 32,59, 60, 73, 76, 81, 87, 89, 95, 98 mỗi số 20.000 đồng; 03 = 25.000 đồng; 04 = 65.000 đồng; 06 = 45.000 đồng; 11, 22, 56, 77 mỗi số 60.000 đồng; 33 = 120.000 đồng; 37, 65, 99 mỗi số 50.000 đồng; 00 = 95.000 đồng; 41, 42, 43, 45, 46, 47, 48, 49 mỗi số 310.000 đồng; 40 = 350.000 đồng; 44 = 420.000 đồng; 55, 67 mỗi số 80.000 đồng; 88 = 110.000 đồng; 66 = 70.000 đồng.

Riêng các tin nhắn gồm các số lô: 47 = 10 điểm; 34, 43, 49, 94, 05, 54, 69 mỗi số 2 điểm lô và các số đề: 01, 10, 11, 17, 32, 34, 43, 44, 55, 60, 61, 62, 63, 64, 66, 99 mỗi số 10.000 đồng; 00, 33, 77, 88 mỗi số 20.000 đồng; 20, 21, 24, 25, 26, 27, 28, 29 mỗi số 50.000 đồng; 23 = 60.000 đồng; 22 = 260.000 đồng. Tốn chưa đọc được nên chưa xác nhận với T2.

Như vậy tổng số tiền T2 bán số lô, số đề cho khách vào chiều 18/12/2024 là tiền 9.257.000 đồng, T2 đã chuyển cho T là 7.745.000 đồng.

Như vậy số tiền T2 và T đánh bạc với nhau trong chiều ngày 18/12/2024 là 7.745.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 18/12/2024, tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, bắt quả tang: Trần Văn A đang bán số lô, số đề cho Bùi Thanh H1; Nguyễn Văn T đang sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 promax màu xanh để tổng hợp, nhận các bảng số lô, số đề, lô xiên do Ninh Quang T2 và Trần Văn A chuyển đến qua ứng dụng Zalo tại nhà ở của mình.

* Vật chứng thu giữ:

  • - Thu trên mặt bàn tại nhà Trần Văn A: Số tiền 2.270.000 đồng; 04 tờ tích kê (cáp) bên trong có ghi số lô, số đề bằng bút mực xanh; 01 (một) bút bi màu xanh; 01 (một) máy tính cầm tay nhãn hiệu deli; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng; Số IMEI: 350002264109598; IMEI 2: 350002264226186.
  • - Thu của Nguyễn Văn T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng, số IMEI 1 : 354741664776607, số IMEI 2: 354741664973741.
  • - Thu giữ của Ninh Quang T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI: 358634094394909.

Bản Kết luận giám định số: 346/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K, Công an tỉnh N kết luận: Trích xuất, phục hồi được dữ liệu: Nội dung các tin nhắn SMS, tin nhắn trong các ứng dụng mạng xã hội Zalo, M1 trong mẫu giám định, điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn T, Trần Văn A, Ninh Quang T2. Dữ liệu phục hồi, trích xuất được lưu trong 01 đĩa DVD có chứa 30,8MB dung lượng dữ liệu. Tiến hành mở kiểm tra toàn bộ dữ liệu phục hồi xác định không có tài liệu, tin nhắn liên quan đến hành vi đánh bạc nêu trên và hành vi vi phạm pháp luật khác.

* Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT xác định:

  • - Khoảng 17 giờ 49 phút ngày 18/12/2024, Trần Đức M sử dụng tài khoản “Đức Minh” trên ứng dụng Zalo của mình nhắn tin đến tài khoản zalo “LP” của T mua các số lô: 08, 23, 32, 94, 53, 38, 83, 61 mỗi số 350 điểm lô. Tại thời điểm này, T đã bị cơ quan Công an bắt quả tang về hành vi đánh bạc nên T không nhắn tin lại cho M, còn M cũng đã thu hồi lại nội dung tin nhắn trên.
  • - Ngày 18/12/2024, Trần Văn A bán số lô đề cho Bùi Thanh H1 và người khác với tổng số tiền 4.430.000 đồng, sau đó chuyển bảng lô đề cho T. Văn A, H1 trước đó chưa bị xử lý hành chính hoặc kết án về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Công an huyện T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Văn A và H1.
  • - Trần Đức M có hành vi sử dụng tài khoản zalo tên “Đức M” nhắn tin đến tài khoản zalo “LP” của T để mua các số lô: 08, 23, 32, 94, 53, 38, 83, 61 mỗi số 350 điểm lô. Tại thời điểm đó T đã bị cơ quan Công an bắt về hành vi đánh bạc, nên T không biết và không xác nhận việc bán các số lô, đề trên với M. Sau khi nhắn tin không thấy T trả lời nên M đã tự động thu hồi tin nhắn trên nên không đủ căn cứ xử lý đối với M về hành vi “Đánh bạc”.
  • - Đối với những người đến mua các số lô, số đề, số lô xiên của T2 và Văn A vào ngày 18/12/2024: T2 và Văn A không biết những người này là ai, ở đâu. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không xác định được là ai để xử lý.
  • - Ninh Quang T2 tự nguyện giao nộp số tiền 9.257.000 đồng là tiền Tuyên bán số lô đề trái phép vào ngày 18/12/2024.
  • - Trần Văn A tự nguyên giao nộp số tiền 2.160.000 đồng là tiền Anh bán số lô đề trái phép vào ngày 18/12/2024.

Tại cơ quan điều tra: Các bị cáo Nguyễn Văn TNinh Quang T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nhận xét trên.

Bản cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 25 tháng 02 năm 2025, VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T và bị cáo Ninh Quang T2 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên toà:

  • - Các bị cáo T và T2 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nhận xét trên và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.
  • - Đại diện VKSND huyện Trực Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh, điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS: Đề nghị xử phạt Nguyễn Văn T mức án từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng đến 36 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS: Đề nghị xử phạt Ninh Quang Tuyên mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng đến 30 tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo T và T2.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 bút bi mực xanh thu giữ của Trần Văn A.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu Deli và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Văn A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của T2; Số tiền 2.270.000 đồng thu giữ của Trần Văn A và 2.160.000 đồng do Trần Văn A tự nguyện giao nộp; 9.257.000 đồng do Ninh Quang T2 tự nguyện giao nộp.

Về án phí: Các bị cáo T và T2 phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT; VKSND huyện Trực Ninh; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng của Cơ quan CSĐT, VKSND huyện Trực Ninh đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra tự thú; Biên bản khám xét; Biên bản kiểm tra dữ liệu điện thoại; Kết luận giám định của Phòng K Công an tỉnh N và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18/12/2024, Nguyễn Văn TNinh Quang T2 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô đề trái phép, cụ thể: Nguyễn Văn T nhận số lô đề của Ninh Quang T2Trần Văn A với tổng số tiền là 11.875.000 đồng; Ninh Quang T2 đã bán số lô đề cho người khác với tổng số tiền là 9.257.000 đồng, sau đó T2 chuyển số lô, đề này cho T thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang tại thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn TNinh Quang T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS như cáo trạng VKSND huyện Trực Ninh đã truy tố đối với các bị cáo.

[3] Về vị trí vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm. Nguyễn Văn T là người trực tiếp nhận số lô, số đề của T2 và trực tiếp bán số lô, số đề cho khách xếp vai trò số 1, Ninh Quang T2 là người bán số lô đề cho người chơi, sau đó chuyển lại cho T xếp vai trò số 2.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

4.1. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo T và T2 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

4.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T2 đã tự nguyện nộp lại toàn bộ số tiền đánh bạc; Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có con nhỏ (áp dụng với bị cáo T2), đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Các bị cáo Nguyễn Văn TNinh Quang T2 đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng, các có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, về hình phạt xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội, cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do và gia đình có hoàn cảnh khó khăn, nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 bút bi mực xanh thu giữ của Trần Văn A là công cụ sử dụng vào việc ghi số lô, đề trái phép.
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
    • + 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu Deli và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Văn A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của T2. Đây là công cụ, phương tiện các đối tượng sử dụng vào việc mua bán trái phép số lô, đề.
    • + Số tiền 2.270.000 đồng thu giữ của Trần Văn A và 2.160.000 đồng do Trần Văn A tự nguyện giao nộp; Số tiền 9.257.000 đồng do Ninh Quang T2 tự nguyện giao nộp. Đây là tiền do đối tượng mua bán trái phép số lô, đề mà có.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo T và bị cáo T2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn TNinh Quang T2 phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS: Xử phạt Nguyễn Văn T 15 (mười năm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04 - 4 - 2025). Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 321 BLHS; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 BLHS: Xử phạt Ninh Quang T2 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 04 - 4 - 2025). Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn TNinh Quang T2 cho UBND xã T, huyện T, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Văn TNinh Quang T2.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 điều 106 BLTTHS:

  • 3.1. Tịch thu tiêu huỷ 01 bút bi mực xanh thu giữ của Trần Văn A.
  • 3.2. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
    • - 01 máy tính cầm tay nhãn hiệu Deli và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Trần Văn A.
    • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Văn T.
    • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Ninh Quang T2.
    • (các vật chứng nêu trên có đặc điểm như tại Biên bản giao nhận vật chứng số: 26/THA ngày 26/02/2025 giữa CQCSĐT Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định).
    • - Số tiền 2.270.000 đồng thu giữ của Trần Văn A và số tiền 2.160.000 đồng do Trần Văn A tự nguyện giao nộp.
    • - Số tiền 9.257.000 đồng do Ninh Quang T2 tự nguyện giao nộp.
    • (số tiền này đã được Công an huyện T chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định vào ngày 25/02/2025).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Các bị cáo Nguyễn Văn TNinh Quang T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Văn A vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự, các Bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Trực Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Trực Ninh;
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HSST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 28/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger