|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày: 30 - 6 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Trường Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Hiếu và bà Lò Thị Khánh Quốc
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Việt Bảo - Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2025/HSST ngày 18 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
LƯỜNG VĂN XỨNG, sinh năm 1980. Nơi cư trú: xóm Kìa, xã Yên Hòa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Nguyên Chủ tịch UBND xã Yên Hòa, Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Có bố là Lường Văn Nuôi và mẹ là Đinh Thị Bui; Có vợ là Hà Thị Yên và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012. Gia đình bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 176 – QĐ/HU ngày 23/12/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện Ủy Đà Bắc. Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
NGUYỄN NGỌC THIỆP, sinh năm 1978. Nơi cư trú: tiểu khu Mu, thị trấn Đà Bắc, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Công chức UBND xã Yên Hòa; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Có bố là Nguyễn Bá Thập (đã chết) và mẹ là Đinh Thị Mến; Có vợ là Hà Thị Hoài và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2014. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 177 – QĐ/HU ngày 23/12/2024 của Ủy ban kiểm tra huyện Ủy Đà Bắc. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
LƯỜNG VĂN NGỌC, sinh năm 1982. Nơi cư trú: xóm Men, xã Yên Hòa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trưởng xóm Men; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Có bố là Lường Văn Đứng và mẹ là Đinh Thị Sao; Có vợ là Lường Thị Yên và 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2011. Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 192 – QĐ/HU ngày 02/6/2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện Ủy Đà Bắc. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
NGUYỄN VIẾT HÙNG, sinh năm 1977. Nơi cư trú: xóm Lang, xã Yên Hòa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do, trưởng xóm Lang; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Có bố là Nguyễn Viết Soạn (đã chết) và mẹ là Đặng Thị Nụ; Có vợ là Đặng Thị Thu và 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2006. Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 164 – QĐ/HU ngày 02/6/2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện Ủy Đà Bắc. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
HÀ HUY TÂN, sinh năm 1976. Nơi cư trú: xóm Kìa, xã Yên Hòa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trưởng xóm Kìa; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Có bố là Hà Văn Inh và mẹ là Lường Thị Tịnh; Có vợ là Lường Thị Đính và 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2002. Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 191 – QĐ/HU ngày 02/6/2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện Ủy Đà Bắc. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
-
LƯỜNG VĂN THIẾT, sinh năm 1983. Nơi cư trú: xóm Hạt, xã Yên Hòa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trưởng xóm Hạt; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Có bố là Lường Văn Đan và mẹ là Lường Thị Xuân; Có vợ là Hà Thị Nhất và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2009. Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con cả trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo là đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 163 – QĐ/HU ngày 02/6/2025 của Ủy ban kiểm tra Huyện Ủy Đà Bắc. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 15/5/2023, căn cứ các Quyết định của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phân bổ dự toán kinh phí sự nghiệp Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2023, Phòng Dân tộc và Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Đà Bắc có các Công văn số: 96/PDT-VT về việc rà soát nhu cầu thực hiện Dự án 4 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với số vốn dự kiến phân bổ cho xã Yên Hòa là 280.000.000 đồng. Công văn số: 297/LĐTBXH về việc rà soát xây dựng danh mục thực hiện Tiểu dự án 1: Hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng KTXH tại các huyện nghèo thuộc Dự án 1. Nguồn vốn hỗ trợ với dự toán kinh phí phân bổ cho xã Yên Hòa là 260.000.000 đồng. Tổng số tiền dự kiến phân bổ cho xã Yên Hòa từ 02 dự án trên là 540.000.000 đồng (năm trăm bốn mươi triệu đồng).
Thực hiện các văn bản trên, Lường Văn Xứng là Chủ tịch UBND xã Yên Hòa đã chỉ đạo cán bộ phụ trách văn hóa và cán bộ phụ trách lao động thương binh xã là Bùi Thị Phương Thúy và Hà Văn Chanh thông báo đến 04 xóm thuộc xã, giao 04 trưởng xóm tiến hành kiểm tra, rà soát và đăng ký các công trình thuộc diện cần duy tu, bảo dưỡng. Sau khi các trưởng xóm đăng ký danh sách công trình, UBND xã Yên Hòa đã tập hợp, ra Công văn số: 19/UBND-VH ngày 17/5/2023 và Báo cáo số: 27/BC-UBND ngày 23/5/2023 kèm theo Danh sách các công trình cần duy tu bảo dưỡng gửi UBND huyện Đà Bắc với tổng số 19 công trình, số vốn đăng ký bằng số vốn dự kiến phân bổ của UBND huyện là 540.000.000đ.
Căn cứ vào các văn bản trên, UBND huyện Đà Bắc đã ra các Quyết định số: 2100/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 về việc phân bổ và giao bổ sung dự toán kinh phí sự nghiệp nguồn ngân sách Trung ương thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Quyết định số: 2171/QĐ-UBND ngày 21/6/2023 về việc phân bổ và giao bổ sung dự toán kinh phí sự nghiệp thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi năm 2023 huyện Đà Bắc. Theo các Quyết định trên, UBND xã Yên Hòa được giao dự toán kinh phí và là chủ đầu tư của 19 công trình duy tu, bảo dưỡng. Trong đó có 09 công trình thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững với kinh phí được giao là 260.000.000 đồng; 10 công trình thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với kinh phí được giao là 280.000.000 đồng. Tổng số kinh phí UBND xã Yên Hòa được giao thực hiện là 540.000.000 đồng.
Khoảng cuối tháng 6, đầu tháng 7/2023, sau khi nhận được các văn bản thông báo từ Phòng Dân tộc, Phòng Lao động - xã hội huyện, Lường Văn Xứng gọi Nguyễn Ngọc Thiệp – Công chức Tài chính, kế toán xã và 04 trưởng xóm gồm: Lường Văn Ngọc – Trưởng xóm Men, Nguyễn Viết Hùng – Trưởng xóm Lang, Hà Huy Tân – Trưởng xóm Kìa, Lường Văn Thiết – Trưởng xóm Hạt đến phòng làm việc. Tại đây, Xứng thông báo các công trình duy tu, bảo dưỡng mà các xóm đăng ký đã có Quyết định phê duyệt của UBND huyện, thông báo về số vốn được phân bố cụ thể để duy tu các công trình đối với từng trưởng xóm, từng công trình. Lường Văn Xứng nói giao cho 04 trưởng xóm tự tiến hành duy tu, bảo dưỡng các công trình và chỉ đạo trưởng xóm sau khi làm xong, rút được ngân sách Nhà nước phải nộp lại 30% tổng số kinh phí duy tu, bảo dưỡng công trình, tương đương 162.000.000 đồng để chi tiêu cho công việc chung của UBND xã. Tại cuộc họp, Nguyễn Ngọc Thiệp đưa ra ý kiến về việc các công trình trên phải có hồ sơ thanh toán mới rút được tiền Ngân sách, vì vậy đề xuất các trưởng xóm phải nộp thêm cho UBND xã 07% tổng số tiền kinh phí để mua hoá đơn giá trị gia tăng vật liệu xây dựng (tức 10% trên 70% số tiền còn lại sau khi đã cắt 30% về cho UBND xã) và 500.000 đồng/01 bộ hồ sơ công trình. Xứng và các trưởng xóm nhất trí với ý kiến của Thiệp. Kết thúc buổi họp, Lường Văn Xứng kết luận chỉ đạo các trưởng xóm nộp lại số tiền bao gồm 30% số tiền dự án, tiền mua hóa đơn và 500.000 đồng/01 bộ hồ sơ (tổng 19 bộ hồ sơ là 9.500.000 đồng) giao cho Thiệp lo hồ sơ công trình; thống nhất phương án các trưởng xóm tự ứng trước tiền hoặc mua nợ vật liệu, nhân công để thực hiện duy tu, bảo dưỡng các công trình. Quá trình duy tu, bảo dưỡng các công trình, chỉ có Nguyễn Viết Hùng tự đi mua 02 hóa đơn của Công ty TNHH Vận tải và Xây dựng công trình PFC với số tiền 5.840.000 đồng, còn các trưởng xóm khác không mua được hóa đơn, Thiệp đã đi mua 09 hóa đơn hết 19.300.000 đồng để hoàn thiện hồ sơ. Tổng tiền mua 11 hóa đơn là 25.140.000 đồng.
Đến khoảng đầu tháng 10/2023, khi nguồn vốn được phân bổ về tại Kho bạc nhà nước huyện Đà Bắc, Lường Văn Xứng nhắc các trưởng xóm khẩn trương thực hiện duy tu, bảo dưỡng công trình để đẩy nhanh tiến độ giải ngân. Lúc này, các trưởng xóm bắt đầu thực hiện các công trình đã đăng ký, trực tiếp liên hệ mua vật liệu tại các cửa hàng trên địa bàn xã Yên Hòa; xã Cao Sơn; thị trấn Đà Bắc, tự thuê nhân công và trực tiếp tham gia. Quá trình thi công các trưởng xóm chỉ được biết việc phân bổ kinh phí của xóm và thi công các công trình của xóm mình, không được biết việc phân bổ kinh phí của xóm khác và không trao đổi, bàn bạc với nhau. Đến giữa tháng 11/2023, hầu hết các công trình đã được các trưởng xóm duy tu, bảo dưỡng xong (chỉ có 02 công trình do Nguyễn Viết Hùng – xóm Lang là đã mua vật liệu nhưng chưa thi công do ảnh hưởng đến nương ngô của bà con đang vụ thu hoạch; đến nay thì tất cả các công trình đã được duy tu, bảo dưỡng và đi vào hoạt động).
Để có hồ sơ công trình phục vụ quyết toán theo quy định, Nguyễn Ngọc Thiệp liên lạc với Đinh Tuấn Anh – Công chức Phòng Tài chính, kế hoạch UBND huyện Đà Bắc nhờ làm hồ sơ giúp vì có mối quan hệ quen biết và do Tuấn Anh có trình độ, chuyên môn. Khi nhờ Tuấn Anh, Thiệp không thỏa thuận gì về tiền công và không nói mục đích cần hồ sơ để làm gì. Thiệp cung cấp các thông tin cần thiết để Tuấn Anh có dữ liệu xây dựng 19 bộ hồ sơ và đến giữa tháng 11/2023 thì làm xong hồ sơ. Khoảng tháng 01/2024 Thiệp đến phòng làm việc gặp Đinh Tuấn Anh và đưa cho Tuấn Anh 9,5 triệu đồng, Tuấn Anh hiểu là Thiệp cảm ơn nên cầm tiền. Sau khi có hồ sơ, Thiệp gọi các thành phần ký hoàn thiện hồ sơ: Các trưởng xóm ký vào các tài liệu liên quan đến thi công, Hà Trà Đằng – Chủ tịch MTTQ xã (vai trò giám sát) ký nghiệm thu, Bùi Văn Thương – Phó Chủ tịch UBND xã ký tờ trình đề nghị phê duyệt dự án, Lường Văn Xứng ký hoàn thiện các quyết định trong hồ sơ. Thực tế ngoài các bị cáo, những người khác chỉ có tên trong thành phần, không được tham gia bàn bạc và không biết việc trích giữ lại tiền dự án. Đối với 19 hồ sơ công trình đã ký, Nguyễn Ngọc Thiệp chuyển một bộ về Kho bạc nhà nước huyện Đà Bắc để quyết toán, một bộ hồ sơ công trình đầy đủ thì lưu tại UBND xã Yên Hòa.
Sau khi thực hiện xong thủ tục quyết toán, Nguyễn Ngọc Thiệp thông báo cho các trưởng xóm mang căn cước công dân xuống Ngân hàng Agribank - Chi nhánh Đà Bắc để lấy tiền. Trong hai ngày 29, 30/11/2023, các trưởng xóm đã đi rút tiền mặt về và nộp lại cho Thiệp, việc rút và nộp tiền do từng trưởng xóm thực hiện độc lập, không biết và không đi cùng nhau. Số tiền các xóm được giao dự toán theo Quyết định của UBND huyện và số tiền thực tế phải nộp lại cho UBND xã cụ thể như sau:
- Lường Văn Ngọc – Trưởng xóm Men: Thực hiện 06 công trình với số tiền được giao là 160.000.000 đồng, phải nộp lại số tiền 62.200.000 đồng (tiền 30% là 48.000.000 đồng; tiền mua hóa đơn là 11.200.000 đồng; tiền 06 bộ hồ sơ là 3.000.000 đồng) thực nhận 97.800.000 đồng. Ngọc đã chi trả hết 92.100.000 đồng, còn lại 5.700.000 đồng sử dụng để chi tiêu cá nhân.
- Nguyễn Viết Hùng – Trưởng xóm Lang: Thực hiện 05 công trình với số tiền 140.000.000 đồng, phải nộp lại số tiền 49.300.000 đồng (tiền 30% là 42.000.000 đồng; mua hóa đơn là 9.800.000 đồng nhưng Hùng đã tự mua được 02 hóa đơn nên được trừ đi 5.000.000 đồng, Hùng còn phải nộp tiền hóa đơn là 4.800.000 đồng; tiền 05 bộ hồ sơ là 2.500.000 đồng) thực nhận 90.700.000 đồng. Hùng chi trả hết 85.700.000 triệu đồng (trong đó có 5.840.000 đồng mua 02 hóa đơn GTGT), còn lại 5.000.000 đồng sử dụng để chi tiêu cá nhân.
- Hà Huy Tân – Trưởng xóm Kìa: Thực hiện 04 công trình với số tiền 120.000.000 đồng, phải nộp lại số tiền 46.400.000 đồng (tiền 30% là 36.000.000 đồng; mua hóa đơn là 8.400.000 đồng; tiền 04 bộ hồ sơ là 2.000.000 đồng) thực nhận 73.600.000 đồng. Tân chi trả hết 33.785.000 đồng, còn lại 39.815.000 đồng sử dụng để chi tiêu cá nhân.
- Lường Văn Thiết – Trưởng xóm Hạt: Thực hiện 04 công trình với số tiền 120.000.000 đồng, phải nộp lại số tiền 46.400.000 đồng (tiền 30% là 36.000.000 đồng; mua hóa đơn là 8.400.000 đồng; tiền 04 bộ hồ sơ là 2.000.000 đồng) thực nhận 73.600.000 đồng. Thiết chi trả hết 71.350.000 đồng, còn lại 2.250.000 đồng sử dụng để chi tiêu cá nhân.
Tổng số tiền 204.300.000 đồng nhận được từ các trưởng xóm, Nguyễn Ngọc Thiệp sử dụng để mua 09 hóa đơn giá trị gia tăng vật liệu xây dựng nhằm hoàn thiện chứng từ phục vụ thanh quyết toán, trả tiền thuê làm hồ sơ và chi trả các khoản nợ của UBND xã Yên Hòa hết theo chỉ đạo của Lường Văn Xứng.
Ngày 21/10/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đà Bắc có Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS, kết luận tổng chi phí xây dựng sau thuế của 19 công trình duy tu tương đương 362.971.000 đồng (tức gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước số tiền 177.209.000 đồng).
Ngày 22/5/2025, Trung tâm kiểm định chất lượng công trình xây dựng – Sở Xây dựng có Bản kết luận giám định số: 57/KLGĐTP-TTTVGS&KĐ, xác định cụ thể giá trị thi công 19 công trình của 04 xóm như sau:
- Lường Văn Ngọc – Trưởng xóm Men: Sử dụng kinh phí hết 144.426.000 đồng để duy tu, bảo dưỡng 06 công trình (thấp hơn chi phí được quyết toán là 15.574.000 đồng, cao hơn số tiền thực nhận là 46.626.000 đồng);
- Lường Văn Thiết – Trưởng xóm Hạt: Sử dụng kinh phí hết 39.337.000 đồng để duy tu, bảo dưỡng 04 công trình (thấp hơn chi phí được quyết toán là 80.663.000 đồng, thấp hơn số tiền thực nhận là 34.263.000 đồng);
- Nguyễn Viết Hùng – Trưởng xóm Lang: Sử dụng kinh phí hết 173.767.000 đồng để duy tu, bảo dưỡng 05 công trình (cao hơn số tiền được quyết toán là 33.767.000 đồng, cao hơn số tiền thực nhận là 83.067.000 đồng);
- Hà Huy Tân – Trưởng xóm Kìa: Sử dụng kinh phí hết 33.689.000 đồng để duy tu, bảo dưỡng 04 công trình (thấp hơn số tiền được quyết toán là 86.311.000 đồng, thấp hơn số tiền thực nhận là 39.911.000 đồng).
Theo Kết luận giám định, số tiền thực tế các trưởng xóm sử dụng để thi công các hạng mục duy tu, bảo dưỡng theo định mức được quy định là 391.039.000 đồng. So với số tiền UBND xã đã quyết toán là 540 triệu đồng thì 19 công trình duy tu, bảo dưỡng trên gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước số tiền 148.961.000 đồng.
* Ngày 28/5/2025 Cơ quan CSĐT công an tỉnh Hòa Bình đã có Văn bản số 1421/CSKT về việc đề nghị giải thích Kết luận giám định số 57.
Ngày 29/5/2025 Trung tâm tư vấn giám sát và kiểm định chất lượng công trình có Công văn số 63/TTTVGS&KĐ về việc trả lời, làm rõ Kết luận giám định số 57:
"1. Về lý do có sự chênh lệch kinh phí thi công giữa các công trình của từng xóm là do nội dung duy tu, bảo dưỡng của các công trình trong các xóm khác nhau, trong đó đơn giá ống HDPE chiếm tỷ trọng lớn trong dự toán duy tu, bảo dưỡng. Công trình nào có đường ống lắp đặt thực tế lớn hơn sẽ kéo theo giá trị giám định cao hơn.
Nguyên nhân thứ 1 dẫn đến giá trị công trình (sau giám định) cao hơn giá trị trong dự toán là do giá ống HDPE được phê duyệt cao hơn giá trị thực tế...
Nguyên nhân thứ 2 dẫn đến giá trị công trình (sau giám định) tăng là do khối lượng thực tế thi công lớn hơn so với khối lượng nghiệm thu, quyết toán. Đơn giá dự toán được Chủ đầu tư phê duyệt không sát với giá thị trường (đặc biệt là giá ống HDPE).
2. Về đơn giá thi công trên địa hình đồi núi cần lập dự toán đơn giá riêng cho từng công trình để phù hợp với địa hình, cự ly của công trình đó; 19 công trình duy tu bảo dưỡng đã được tính giá đến chân công trình nhưng không có dự toán lập riêng cho từng công trình tại các địa hình đồi núi cao, cự ly khác nhau (đây là lỗi của đơn vị lập khảo sát dự toán công trình).
Về giá thực tế của vật liệu xây dựng đối với 19 công trình duy tu bảo dưỡng tại xã Yên Hòa. Đơn vị giám định không tiến hành giám định giá thực tế tại thời điểm xây dựng (đã thể hiện trong đề cương giám định). Giá trị công trình sau giám định được tính bằng khối lượng thực tế thi công nhân với đơn giá đã được chủ đầu tư phê duyệt. Những vật tư không có trong đơn giá phê duyệt được đơn vị giám định áp dụng giá của Sở Xây dựng thời điểm thi công nhân với chi phí vận chuyển đến chân công trình."
Theo quy định tại Điều 8 Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP ngày 13/12/2017 quy định những trường hợp cần thiết phải trưng cầu giám định tư pháp trong giải quyết vụ án, vụ việc về tham nhũng, kinh tế thì "Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi xem xét, đánh giá, sử dụng kết luận giám định phải bảo đảm thống nhất, phù hợp với các chứng cứ khác có liên quan đến vụ án, vụ việc". Xét thấy Kết luận định giá tài sản và Kết luận giám định không phù hợp với các chứng cứ khác là lời khai thống nhất của cả 06 bị cáo và người liên quan về số tiền đã trích lại và sử dụng cho công việc của xã, số tiền các bị cáo đã chi trả cho vật tư, nhân công, do đó không thể dùng Kết luận định giá, Kết luận giám định để xác định số tiền thiệt hại của Nhà nước. Quá trình điều tra xác định ngay từ ban đầu Lường Văn Xứng và Nguyễn Ngọc Thiệp đã thoả thuận, thống nhất với 04 trưởng xóm về việc trích lại tiền mua hóa đơn và 500.000 đồng/01 bộ hồ sơ và nộp lại 30% số tiền dự án về cho UBND xã. Do đó, có căn cứ xác định số tiền thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước chính là số tiền mặt các bị can đã trích lại chi tiêu sai quy định 210.140.000 đồng, gồm 204.300.000 đồng (tiền thu của các trưởng xóm) và 5.840.000 đồng (tiền Nguyễn Viết Hùng mua 02 hóa đơn).
Cáo trạng số: 47/CT-VKSHB-P1 ngày 18/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hoà Bình truy tố: Lường Văn Xứng, Nguyễn Ngọc Thiệp về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo điểm c khoản 2 Điều 356 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 356 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 38; Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lường Văn Xứng.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc Thiệp.
- Áp dụng khoản 1 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết.
- Xử phạt bị cáo Lường Văn Xứng từ 20 đến 26 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Thiệp từ 15 đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có thời gian thử thách, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/6/2025.
- Xử phạt các bị cáo Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có thời gian thử thách, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/6/2025.
- Giao các bị cáo Nguyễn Ngọc Thiệp, Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết cho Ủy ban nhân dân nơi các bị cáo cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền các bị cáo khắc phục hậu quả và số tiền 9.500.000 đồng do Đinh Tuấn Anh giao nộp.
- Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đã nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về pháp luật tố tụng.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hòa Bình, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân tỉnh Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi các bị cáo đã thực hiện:
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có cơ sở khẳng định: Lường Văn Xứng, Nguyễn Ngọc Thiệp, Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng chính sách của Nhà nước, tự ý trích lại tiền dự án để chi tiêu cho các hoạt động khác của UBND xã Yên Hòa không đúng quy định. Lường Văn Xứng và Nguyễn Ngọc Thiệp đã gây thiệt hại cho ngân sách Nhà nước số tiền 210.140.000 đồng. Lường Văn Ngọc gây thiệt hại số tiền là 62.200.000 đồng. Nguyễn Viết Hùng gây thiệt hại số tiền là 55.140.000 đồng. Hà Huy Tân gây thiệt hại số tiền 46.400.000 đồng. Lường Văn Thiết gây thiệt hại số tiền 46.400.000 đồng.
Như vậy, đã đủ chứng cứ để kết luận hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 356 Bộ luật Hình sự, cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội.
[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[3.1] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không những gây thiệt hại về tài sản và xâm hại đến hoạt động đúng đắn trong công tác quản lý Nhà nước mà còn gây mất uy tín, giảm lòng tin của nhân dân đối với chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Vì vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội đối với các bị cáo.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, không có tổ chức hay sự câu kết chặt chẽ, tuy nhiên Hội đồng xét xử cần phải đánh giá tính chất vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt.
Đối với Lường Văn Xứng là chủ tịch UBND xã Yên Hòa, được giao làm chủ đầu tư 19 công trình duy tu, bảo dưỡng trên địa bàn xã. Để có tiền chi trả cho hoạt động chung của UBND xã Yên Hòa, Lường đã chỉ đạo các bị cáo trích lại 30% số tiền được Nhà nước đầu tư của 19 công trình và hoàn thiện hồ sơ chứng từ thanh quyết toán không đúng thực tế. Do vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm nhiệm chính trong vụ án.
Đối với Nguyễn Ngọc Thiệp là công chức tài chính – kế toán của UBND xã đã tham mưu, giúp sức tích cực cho bị cáo Xứng để trích giữ lại tiền ngân sách Nhà nước nhằm chi tiêu sai quy định nên bị cáo phải chịu trách nhiệm sau bị cáo Xứng.
Đối với Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết là các trưởng xóm, đồng phạm với vai trò người giúp sức. Hành vi của các bị cáo là độc lập, chỉ được biết và thực hiện trong phạm vi công trình của mình, nên phải chịu trách nhiệm với số tiền thiệt hại mà mình gây ra với mức hình phạt tương đương nhau và thấp hơn các bị cáo Xứng, bị cáo Thiệp là phù hợp.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, trong đó Lường Văn Xứng khắc phục số tiền là 114.300.000đ, Nguyễn Ngọc Thiệp nộp khắc phục số tiền là 90.000.000đ, Hà Huy Tân nộp khắc phục số tiền là 19.105.000 đồng, Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Lường Văn Thiết mỗi bị cáo khắc phục 10.000.000đ. Trong quá trình công tác các bị cáo đã nhiều lần được các cấp có thẩm quyền khen thưởng. UBND xã Yên Hòa và đại diện các xóm đã có văn bản xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Ngoài ra bị cáo Xứng, bị cáo Thiệp và bị cáo Thiết có vợ trong quá trình công tác được tặng thưởng nhiều giấy khen. Bị cáo Thiệp có ông là Nguyễn Bá Thập, bị cáo Ngọc có bố đẻ là Lường Văn Đứng và bị cáo Hùng có bác ruột là những người có công với cách mạng. Bị cáo Tân có bố đẻ là đảng viên đã cống hiến nhiều năm cho tổ chức Đảng.
Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho từng bị cáo khi quyết định hình phạt.
[3.4] Xét các bị cáo đa số là người dân tộc thiểu số, hiện sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Trong vụ án này các bị cáo đều lần đầu phạm tội, chủ động khắc phục toàn bộ thiệt hại do mình gây ra, do đó Hội đồng xét xử xem xét áp dụng chính sách khoan hồng được quy định tại Điều 5 Nghị quyết số 03/2020/NQ-HĐTP ngày 30/12/2020 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khi lượng hình.
[3.5] Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử nhận thấy đối với bị cáo Lường Văn Xứng cần phải áp dụng mức hình phạt, cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian nhất định. Đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc Thiệp, Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng và có đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nên xét thấy không cần phải xử phạt tù mà cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo và thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[4] Về hành vi của những cá nhân khác trong vụ án:
- Đối với Bùi Văn Thương – Phó Chủ tịch UBND xã, Hà Trà Đằng – Chủ tịch Mặt trận tổ quốc xã là người có chữ ký tại Tờ trình dự toán chi tiết và Biên bản nghiệm thu công trình trong 19 hồ sơ duy tu, bảo dưỡng. Tuy nhiên, hai cá nhân trên không tham gia và không được bàn bạc về việc trích rút tiền ngân sách để chi tiêu sai quy định. Mặt khác, Quyết định thành lập Ban quản lý dự án và phân công nhiệm vụ được ký sau khi sau khi các công trình đã tu sửa xong nên ông Thương và bà Đằng ký là để hợp thức hồ sơ, do đó không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự.
- Đối với Đinh Tuấn Anh – Công chức Phòng Tài chính, kế hoạch UBND huyện Đà Bắc do quen biết Nguyễn Ngọc Thiệp nên đã hoàn thiện giúp 19 bộ hồ sơ duy tu, bảo dưỡng công trình. Tuấn Anh không nằm trong thành viên Tổ thẩm định hồ sơ công trình của UBND huyện Đà Bắc (đối với 19 công trình trên) và không biết mục đích Thiệp nhờ làm các hồ sơ này nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự. Số tiền 9.500.000 đồng do Thiệp trả công làm hồ sơ, Tuấn Anh không nhận thức được số tiền trên được rút từ nguồn ngân sách duy tu bảo dưỡng công trình và đã tự nguyện nộp lại là đúng quy định của pháp luật.
- Đối với các cá nhân, công ty có hành vi mua, bán trái phép hóa đơn là Nguyễn Ngọc Thiệp, Nguyễn Viết Hùng, Công ty TNHH Vận tải và Xây dựng công trình PFC, Công ty TNHH Thương mại Xây dựng Quang Võ, Công ty TNHH Thắng Lý Đà Bắc, xét thấy số lượng hóa đơn mua bán chưa đủ định lượng cấu thành tội Mua bán trái phép hóa đơn quy định tại Điều 203 BLHS, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh Hòa Bình đã có kiến nghị xử lý hành chính gửi Chi cục Thuế khu vực I (Hà Nội – Hòa Bình) là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền các bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả và số tiền Đinh Tuấn Anh đã nộp, hiện đang lưu giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Xứng, Nguyễn Ngọc Thiệp, Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết phạm tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn Xứng 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc Thiệp 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/6/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn Ngọc 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/6/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Hùng 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/6/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Huy Tân 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/6/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 356; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Văn Thiết 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 30/6/2025.
Giao bị cáo Nguyễn Ngọc Thiệp cho Ủy ban nhân dân thị trấn Đà Bắc, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết cho Ủy ban nhân dân xã Yên Hòa, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp các bị cáo Nguyễn Ngọc Thiệp, Lường Văn Ngọc, Nguyễn Viết Hùng, Hà Huy Tân, Lường Văn Thiết thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 253.800.000 đồng, trong đó: Lường Văn Xứng nộp là 114.300.000đ; Nguyễn Ngọc Thiệp nộp là 90.000.000đ; Lường Văn Ngọc, Hà Huy Tân, Nguyễn Viết Hùng, Lường Văn Thiết mỗi bị cáo nộp 10.000.000đ; Đinh Tuấn Anh nộp 9.500.000đ. Theo Ủy nhiệm chi số 1367 (18/6/2025) của Công an tỉnh Hòa Bình và Biên lai số 0002771 ngày 18/6/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 9.105.000 đồng do Hà Huy Tân giao nộp theo Biên lai số 0002968 ngày 24/6/2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 30/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đinh Trường Sơn |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn Xứng và đồng phạm - Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong thi hành công vụ
