Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày 30-6-2025

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đình Thị Thanh Hải, bà Nguyễn Ngọc Oanh

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Hà –Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Tú, ông Nguyễn Huy Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2025/TLST-HS, ngày 28 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn Â, tên gọi khác: không, sinh ngày 12-02-1954, tại tỉnh Nam Định; CCCD số: [...], cấp ngày 13-4-2021, nơi cấp Cục cảnh sát QLHC về TTXH; nơi cư trú: Tổ B, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Nguyên giám đốc Công ty Cổ phần Đ3; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Là Đảng viên Đ4, hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 125-QĐ/UBKTHU ngày 29-5-2025 của Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy Y1; Con ông Trần Văn Đ1 (đã chết) và bà Trần Thị H (đã chết). Vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1954 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm: 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  2. Nguyễn Thị Vân A, tên gọi khác: không, sinh ngày 25-03-1985, tại tỉnh Tuyên Quang; CCCD số: [...], cấp ngày 17-12-2021, nơi cấp Cục cảnh sát QLHC về TTXH; nơi cư trú: Thôn L, xã T, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Đ3; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn A1, sinh năm: 1955 và bà Trần Thị C, sinh năm: 1954. Chồng là Đỗ Trường S, sinh năm 1979 và có 02 con, con lớn sinh năm: 2009, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  3. Vũ Thị Diệu T1, tên gọi khác: không, sinh ngày 16-10-1987, tại tỉnh Yên Bái; CCCD số: [...], cấp ngày 17-12-2021, nơi cấp Cục cảnh sát QLHC về TTXH ; nơi cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Kế toán, thủ quỹ Công ty Cổ phần Đ3; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Ngọc Q, sinh năm: 1961 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1966. Chồng là Phùng Trung K, sinh năm 1982 và có 02 con, con lớn sinh năm: 2013, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • - Chi cục Thuế khu vực V1

    Địa chỉ: C, đường N, Xã T, Thành phố V, Tỉnh Phú Thọ, Việt Nam

    Đại diện hợp pháp: Ông Hoàng Đình L1, chức vụ: Phó Đội trưởng - Đội thuế liên huyện Y - Y. Có mặt

  • - Công ty Cổ phần Đ3

    Địa chỉ: Cụm C, thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.

    Đại diện hợp pháp: Ông Tống Duy K1, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt

* Người làm chứng

  • - Ông Nguyễn Tuấn A2; sinh năm: 1993; địa chỉ: Tổ A, phường M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Thành K2; sinh năm: 1993; địa chỉ: Thôn C, xã Â, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Phạm Phương L2; sinh năm: 1980; địa chỉ: Số nhà B đường B, tổ A, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lê Mạnh H1; sinh năm: 1991; địa chỉ: Số nhà A đường M, tổ H, phường Đ, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Văn N; sinh năm: 1968; địa chỉ: Số nhà A đường K, tổ E, phường M, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Minh T2; sinh năm: 1967; địa chỉ: Số nhà B đường T, tổ A, phường Đ, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Hà Thị H2; sinh năm: 1962; địa chỉ: Khu tái định cư B, thôn N, xã G, TP Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lê Văn T3; sinh năm: 1958; địa chỉ: Số nhà G đường H, tổ B, phường N, TP Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Bùi Duy K3; sinh năm: 1987; địa chỉ: Số nhà I đường Đ, tổ A, phường Đ, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Phạm Thị Thanh N1; sinh năm: 1982; địa chỉ: Số nhà I, đường L, tổ G, phường Đ, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Văn V; sinh năm: 1970; địa chỉ: Số nhà B, đường H, tổ E, phường Đ, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lê Quang H3; sinh năm: 1990; địa chỉ: Số I đường L, Tổ G, phường Đ, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Hà Thị Thu T4; sinh năm: 1976; địa chỉ: Ngõ B đường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lê Quý D; sinh năm: 1973; địa chỉ: Số nhà A, đường N, tổ H, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Trần Mạnh C1; sinh năm: 1982; địa chỉ: Tổ B, phường Đ, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Đỗ Thị B; sinh năm: 1969; địa chỉ: Tổ H, phường M, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Văn C2; sinh năm: 1977; địa chỉ: Tổ E, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lê Xuân T5; sinh năm: 1985; địa chỉ: Tổ F, thị trấn C, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Vũ Văn T6; sinh năm: 1960; địa chỉ: Tổ B, phường N, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lê Ngọc S1; sinh năm: 1969; địa chỉ: Khu dân cư Đ giáp đường Y, tổ G, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Vũ Hồng T7; sinh năm: 1981; địa chỉ: Thôn C, xã Â, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Đàm Thị L3; sinh năm: 1992; địa chỉ: Thôn Đ, xã Â, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Phạm Văn T8; sinh năm: 1962; địa chỉ: Số nhà A, đường T, tổ A, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Đào Ngọc H4; sinh năm: 1979; địa chỉ: Số nhà D đường Đ, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Nguyễn Thúy H5; sinh năm: 1979; địa chỉ: Số nhà C, đường Y, tổ G, phường Y, TP Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Trung D1; sinh năm: 1981; địa chỉ: Số nhà C đường T, tổ H, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Phạm Ngọc T9; sinh năm: 1991; địa chỉ: Số nhà I ngõ B đường H, tổ P, phường N, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Nguyễn Thị Thu T10; sinh năm: 1993; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường H, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Trần Ngọc T11; sinh năm: 1960; địa chỉ: Thôn N, xã G, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Vũ Đức D2; sinh năm: 1992; địa chỉ: Tổ A, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Lý Thị B1; sinh năm: 1985; địa chỉ: Số nhà E ngõ E đường P, phường N, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Hoàng Thị H6; sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã Â, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Trịnh Thị Y; sinh năm: 1967; địa chỉ: Thôn N, xã Â, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Dương Trí T12; sinh năm: 1969; địa chỉ: Số nhà A đường Y, tổ F, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lâm Đức T13; sinh năm: 1979; địa chỉ: Số nhà A đường Q, tổ A, TP tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lê Văn T3; sinh năm: 1989; địa chỉ: Tổ H, phường N, TP Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Lương Tuấn A3; sinh năm: 1982; địa chỉ: Tổ B, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Đặng Ngọc X; sinh năm: 1974; địa chỉ: Số nhà D ngách A ngõ A đường L, tổ C, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Hoàng Mạnh T14; sinh năm: 1973; địa chỉ: Tổ H, phường N, ΤΡ tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Hà Thị Thu D3; sinh năm: 1971; địa chỉ: Khu tái định cư S, thôn T, xã T, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Hà Vĩnh L4; sinh năm: 1987; địa chỉ: Thôn Đ+ B, xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Nguyễn Hoàng L5; sinh năm: 1975; địa chỉ: Khu tái định cư Đ, thôn Đ, xã Â, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Hữu P; sinh năm: 1978; địa chỉ: Tổ Đ, phường N, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Vũ Huyền T15; sinh năm: 1988; địa chỉ: Tổ dân phố N, phường N, TP tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Đinh Văn C3; sinh năm: 1966; địa chỉ: Tổ A, phường N, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Ngọc C4; sinh năm: 1989; địa chỉ: Số nhà C, ngõ C đường Đ, TP .. Vắng mặt

  • - Ông Trần Trung H7; sinh năm: 1984; địa chỉ: Số nhà G đường Đ, tổ A, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Văn H8; sinh năm: 1986; địa chỉ: UBND xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Bà Nguyễn Lan H9; sinh năm: 1991; địa chỉ: Tổ A, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Hà Huy M; sinh năm: 1979; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Triệu Quang H10; sinh năm: 1983; địa chỉ: Thôn V, xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Hoài N2; sinh năm: 1982; địa chỉ: Số nhà A ngõ B đường T, tổ H, phường Y, TP ., tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

  • - Ông Nguyễn Tiến S2; sinh năm: 1978; địa chỉ: Thôn D, xã M, huyện T, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty cổ phần Đ3 (viết tắt là Công ty Đ3), được Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Y cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp/mã số thuế: 5200497388; Đăng ký lần đầu ngày 17/3/2010, đăng ký thay đổi lần 9 ngày 17/2/02022, địa chỉ: Cụm C, thôn T, xã V, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vốn điều lệ: 6.200.000.000 đồng, kinh doanh nhiều ngành nghề trong đó có sản xuất, kinh doanh bê tông thương phẩm do Trần Văn  làm giám đốc, là người đại diện theo pháp luật, chỉ đạo điều hành mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh; Nguyễn Thị Vân A làm kế toán trưởng; Vũ Thị Diệu T1 làm kế toán viên kiêm thủ quỹ. Công ty Đ3 thực hiện tính thuế theo phương pháp khấu trừ, kê khai thuế theo tháng. Quá trình hoạt động của Công ty, Trần Văn  là người trực tiếp điều hành, chỉ đạo công việc chung, các cổ đông chỉ góp vốn và không tham gia điều hành, chỉ đạo công việc cũng như hoạt động kinh doanh của Công ty.

Trong năm 2023, Trần Văn  đã điều hành, chỉ đạo công ty mua nguyên liệu sản xuất bê tông thương phẩm gồm: xi măng, cát, sỏi, đá không rõ nguồn gốc, “trôi nổi” trên thị trường, không có hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT). Do khối lượng nguyên vật liệu mua vào không có hóa đơn GTGT, nên không đủ điều kiện kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào và tính vào chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh theo quy định. Trần Văn  đã bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Thị Vân A và Vũ Thị Diệu T1 cùng thực hiện hành vi trốn thuế bằng thủ đoạn để ngoài sổ sách kế toán đối với doanh thu bán bê tông thương phẩm và cung cấp dịch vụ bơm bê tông (gọi chung là doanh thu bê tông thương phẩm).

Trần Văn  giao cho Nguyễn Thị Vân A và Vũ Thị Diệu T1 quản lý, sử dụng chữ ký số đã được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền thực hiện các nghiệp vụ kế toán để thực hiện hành vi trốn thuế gồm: xuất hóa đơn GTGT, kê khai thuế GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, phát hành báo cáo tài chính.

Nguyễn Thị Vân A được Trần Văn  giao kiểm soát, quản lý và trực tiếp xuất hóa đơn cho Công ty Đ3. Quá trình thực hiện bán bê tông thương phẩm, Nguyễn Thị Vân A chỉ thực hiện xuất hóa đơn GTGT đối với một phần khối lượng bê tông thương phẩm, phần còn lại không xuất hóa đơn GTGT. Hóa đơn GTGT xuất ra là hóa đơn điện tử được Nguyễn Thị Vân A sử dụng token chữ ký số của Công ty Đ3 lập, phát hành trên phần mềm của Tổng cục T17.

Vũ Thị Diệu T1 được Trần Văn  giao nhiệm vụ: Hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ sách kế toán; kê khai thuế; soạn thảo báo cáo tài chính; quản lý quỹ tiền mặt. Vũ Thị Diệu T1 đã không thực hiện ghi chép đầy đủ, đúng thực tế trong sổ kế toán về doanh thu bê tông thương phẩm, không hạch toán vào sổ sách kế toán, không kê khai thuế, không đưa vào báo cáo tài chính đối với doanh thu bê tông thương phẩm.

Trong năm 2023, Công ty Đ3 đã bán bê tông thương phẩm cho 53 khách hàng nhưng không xuất hóa đơn và xuất hóa đơn nhưng ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế, không thực hiện kê khai thuế, không hạch toán doanh thu tổng số tiền là 4.732.499.717 đồng (đã bao gồm thuế GTGT), trong đó: không xuất hóa đơn cho 50 khách hàng và 03 khách hàng được xuất hóa đơn nhưng số tiền ghi trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế (có bảng kê chi tiết kèm theo Bản án).

Doanh thu bê tông thương phẩm để ngoài sổ sách do Nguyễn Tuấn A2 và Nguyễn Thành K2 là nhân viên thị trường của Công ty Đ3 thu nộp về Công ty bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản cá nhân đến tài khoản số 3710615851 của Vũ Thị Diệu T1 mở tại B2 Chi nhánh Y2, trong đó: Doanh thu bê tông thương phẩm của Nguyễn Tuấn A2 là 2.367.458.000 đồng của 18 khách hàng (17 khách hàng không xuất hóa đơn và 01 khách hàng xuất hóa đơn nhưng giá trị ghi trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế); Doanh thu bê tông thương phẩm của Nguyễn Thành K2 là 2.365.041.717 đồng của 35 khách hàng (33 khách hàng không xuất hóa đơn và 02 khách hàng xuất hóa đơn nhưng giá trị ghi trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế).

Khi nhận được tiền do Nguyễn Tuấn A2 và Nguyễn Thành K2 nộp về Công ty, Vũ Thị Diệu T1 lập “Phiếu thu” để theo dõi, quản lý, trên phiếu thu có thông tin về thời gian, số tiền, tên người nộp tiền, nội dung thu tiền và cho những người có liên quan ký trên phiếu thu như sau:

  • Trần Minh T16 - kế toán viên ký vào mục “Người lập”;
  • Vũ Thị Diệu T1 ký vào mục “Thủ quỹ”;
  • Một số phiếu thu tại mục “Người nộp” được Nguyễn Tuấn A2 hoặc Nguyễn Thành K2 ký, một số phiếu thu mặc dù không phải là người nộp tiền nhưng được Vũ Thị Diệu T1 ký;
  • Nguyễn Thị Vân A ký vào mục “Kế toán trưởng”;
  • Trần Văn  ký vào mục “Thủ trưởng đơn vị”;

Căn cứ chứng từ là “Phiếu thu” và tài liệu điều tra thu thập được trong vụ án, xác định số tiền doanh thu bán bê tông thương phẩm Vũ Thị Diệu T1 nhận được qua tài khoản số 3710615851 trong năm 2023 là 7.903.660.000 đồng.

(Trong số tiền 7.903.660.000 đồng, có 4.732.499.717 đồng là doanh thu bê tông thương phẩm để ngoài sổ sách. Để hợp lý hóa chứng từ theo sổ sách kế toán, Vũ Thị Diệu T1 đã lập thêm chứng từ là Phiếu thu với hình thức tương tự như trên nhưng thể hiện số tiền thu, người nộp được khớp với số tiền, khách hàng trên hóa đơn GTGT đã được Nguyễn Thị Vân A xuất ra cho khách hàng.

Đối với số tiền 4.732.499.717 đồng doanh thu bê tông thương phẩm để ngoài sổ sách, Trần Văn  giao cho Vũ Thị Diệu T1 quản lý, theo dõi và đã sử dụng chi hết. Phần lớn chi mua nguyên vật liệu (xi măng, cát, đá, sỏi), sửa chữa phương tiện, máy móc mà không có hóa đơn đầu vào, số tiền còn lại chi cho một số hoạt động chung của Công ty Đ3 như: thăm hỏi ốm đau, hiếu, hỷ, ngoại giao, tiếp khách, phát triển thị trường... Các khoản chi này đều phải được sự đồng ý duyệt chi của Trần Văn  đồng thời không hạch toán vào sổ sách kế toán.

Ngày 21-4-2025, Giám định viên tư pháp thuộc Chi cục Thuế khu vực V1 đã ban hành kết luận giám định, kết luận như sau:

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội thì Công ty Đ3 không xuất hóa đơn khi bán bê tông thương phẩm và xuất hóa đơn nhưng ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế, không kê khai, không hạch toán tiền bán bê tông thu được vào báo cáo tài chính, tờ khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp số tiền 4.732.499.717 đồng là hành vi trốn thuế.

- Về thuế giá trị giá tăng (GTGT)

Căn cứ quy định tại Điều 6 Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 03/6/2008 quy định: “Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất”;

Do đó, số tiền bán bê tông thương phẩm cho 53 khách hàng với giá trị là 4.732.499.717 đồng (đã bao gồm thuế GTGT) Công ty Đ3 không thực hiện xuất hóa đơn, không kê khai thuế dẫn đến trốn thuế giá trị gia tăng là: 379.753.935 đồng (Bằng chữ: Ba trăm bảy mươi chín triệu, bảy trăm năm mươi ba nghìn, chín trăm ba mươi năm đồng).

- Về thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN)

Căn cứ hồ sơ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y cung cấp, thì đối với khối lượng bê tông thương phẩm đã bán để ngoài sổ sách kế toán với số tiền 4.732.499.717 đồng (đã bao gồm thuế GTGT) của Công ty Đ3 nhưng không có đầy đủ căn cứ để xác định các khoản chi phí được trừ và chi phí không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp; không đủ căn cứ để ấn định thuế TNDN theo quy định. Do đó, Giám định viên tư pháp không có cơ sở xác định thiệt hại về thuế TNDN của Công ty Đ3.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y đã tạm giữ các chứng từ, tài liệu năm 2023 của Công ty Đ3 liên quan đến việc thực hiện xuất hóa đơn, kê khai thuế, hạch toán, báo cáo tài chính. Các chứng từ, tài liệu được đánh số bút lục đưa vào hồ sơ vụ án.

- 01 cây máy tính để bàn màu đen (được niêm phong); 01 tập chứng từ chi lương năm 2023 (bản gốc); 01 sổ đăng ký cổ đông (bản gốc); 01 hợp đồng lao động giữa Nguyễn Thị Vân A ký với Công ty Đ3 (bản gốc); 01 hợp đồng lao động giữa Vũ Thị Diệu T1 ký với Công ty Đ3 (bản gốc). Quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty Đ3.

- 02 giấy niêm phong đã rách, đã qua sử dụng khi mở niêm phong cây máy tính theo biên bản mở niêm phong lập ngày 15-01-2025;

Tổng số tiền 379.753.935 đồng do Trần Văn Â, Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1 tạm nộp khắc phục hậu quả, trong đó: Trần Văn Â: 279.753.935 đồng; Nguyễn Thị Vân A: 50.000.000 đồng; Vũ Thị Diệu T1: 50.000.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 25/CT-VKSYB-P1, ngày 27-5-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố các bị cáo Trần Văn Â, Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1 về tội “Trốn thuế” quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Â, Vũ Thị Diệu T1, Nguyễn Thị Vân A phạm tội trốn thuế

Về hình phạt:

+ Đối với bị cáo Trần Văn Â: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; Điều 17; Điều 35; điểm b, i, o, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo số tiền từ 500 triệu đồng đến 600 triệu đồng.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 200 BLHS cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh phải đóng thuế từ 01 đến 02 năm

+ Đối với bị cáo Nguyễn Thị Vân A: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; Điều 17; Điều 35; Điều 54; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo số tiền từ 150 triệu đồng đến 250 triệu đồng.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 200 BLHS cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ, hành nghề kế toán từ 01 đến 02 năm

+ Đối với bị cáo Vũ Thị Diệu T1: áp dụng điểm b khoản 2 Điều 200; Điều 17; Điều 35; Điều 54; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, phạt bị cáo số tiền từ 150 triệu đồng đến 250 triệu đồng.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 200 BLHS cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ, hành nghề kế toán từ 01 đến 02 năm

Về xử lý vật chứng, đồ vật tài liệu: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47; điểm b, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ 02 giấy niêm phong đã rách, đã qua sử dụng niêm phong cây máy tính; tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 379.753.935 đồng do các bị cáo nộp tạm khắc phục hậu quả.

Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 12, Điều 23 nghị quyết số 326 quy định về án phí, lệ phí, miễn án phí đối với bị cáo Trần Văn Â; bị cáo Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa sơ thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên, sự vắng mặt của của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của những làm chứng và các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận:

Trong năm 2023, Trần Văn  với vai trò là Giám đốc Công ty Đ3, là người có quyền quyết định các vấn đề có liên quan đến hoạt động kinh doanh hàng ngày của Công ty đã chỉ đạo Nguyễn Thị Vân A – Kế toán trưởng của Công ty và Vũ Thị Diệu T1 – Kế toán viên kiêm thủ quỹ của Công ty không xuất hóa đơn cho 50 khách hàng và xuất hóa đơn nhưng ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế khi bán bê tông thương phẩm cho 03 khách hàng, không kê khai nộp thuế GTGT, không đưa vào doanh thu, không kê khai, không hạch toán tiền bán bê tông thu được vào báo cáo tài chính, tờ khai thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh thu bán bê tông thương phẩm số tiền 4.732.499.717 đồng nhằm trốn thuế cho Công ty Đ3 số tiền là: 379.753.935 đồng.

Hành vi của các bị cáo đã phạm tội Trốn thuế, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi hoạt động của bản thân, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý thuế của Nhà nước, làm thất thu Ngân sách Nhà nước. Vì vậy, cần đưa các bị cáo ra xét xử nghiêm minh.

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Trần Văn L6 người đại diện theo pháp luật của Công ty, điều hành và quyết định hoạt động kinh doanh của Công ty đã trực tiếp chỉ đạo bị cáo Nguyễn Thị Vân A là Kế toán trưởng, bị cáo Vũ Thị Diệu T1 là Kế toán kiêm Thủ quỹ không xuất hóa đơn theo quy định, không hoạch toán số tiền bán hàng hóa với mục đích giấu doanh thu thực tế nhằm trốn thuế với tổng số tiền là 379.753.935 đồng nên giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1 mặc dù không được hưởng lợi nhuận từ số tiền trên nhưng khi Trần Văn  chỉ đạo để ngoài sổ sách số tiền doanh thu bán bê tông thương phẩm là 4.732.499.717 đồng đã thực hiện hành vi không xuất hóa đơn khi bán bê tông thương phẩm, xuất hóa đơn nhưng ghi giá trị trên hóa đơn thấp hơn giá trị thanh toán thực tế, hợp lý hóa sổ sách kế toán, báo cáo tài chính để che giấu doanh thu bán bê tông thương phẩm để ngoài sổ sách nhằm trốn thuế số tiền là 379.753.935 đồng nên giữ vai trò thứ yếu.

[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Cả ba bị cáo đều thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện nộp tiền khắc phục hậu quả nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Trần Văn  là người trên 70 tuổi và trong quá trình công tác được cấp có thẩm quyền tặng thưởng bằng khen nên nên được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm o, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Các bị cáo đều có nhân thân tốt, có thái độ ăn năn hối cải và phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọng thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng, nhưng trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn và áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.

[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo bị xử phạt hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo. Cần cấm bị cáo Trần Văn  đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh phải đóng thuế; cấm bị cáo Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1 đảm nhiệm chức vụ, hành nghề kế toán trong một khoảng thời gian nhất định.

[8] Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Các bị cáo gây thiệt hại cho Ngân sách nhà nước số tiền là 379.753.935 đồng và đã nộp lại toàn bộ số tiền trên tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Y để khắc phục hậu quả (trong đó Trần Văn Â: 279.753.935 đồng; Nguyễn Thị Vân A: 50.000.000 đồng; Vũ Thị Diệu T1: 50.000.000 đồng). Số tiền này đã được chuyển đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái tại Kho bạc nhà nước Khu vực VIII. Xét thấy số tiền 379.753.935 đồng là tiền Chi cục Thuế khu vực VIII có trách nhiệm nộp vào Ngân sách nhà nước. Do vậy cần trả cho Chi cục Thuế Khu vực V1 số tiền 379.753.935 đồng do các bị cáo nộp khắc phục hậu quả để nộp vào Ngân sách nhà nước.

- Đối với tàn bộ các chứng từ, tài liệu năm 2023 của Công ty Đ3 liên quan đến việc thực hiện xuất hóa đơn, kê khai thuế, hạch toán, báo cáo tài chính là các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp lục lưu theo hồ sơ vụ án.

- Đối với 01 cây máy tính để bàn màu đen; 01 tập chứng từ chi lương năm 2023 (bản gốc); 01 sổ đăng ký cổ đông (bản gốc); 01 hợp đồng lao động giữa Nguyễn Thị Vân A ký với Công ty Đ3 (bản gốc); 01 hợp đồng lao động giữa Vũ Thị Diệu T1 ký với Công ty Đ3 (bản gốc), xét thấy những đồ vật, tài liệu này không liên quan đến vụ án nên cơ quan điều tra đã trả lại cho Công ty Đ3 là phù hợp.

- Đối với 02 giấy niêm phong đã rách, đã qua sử dụng khi mở niêm phong cây máy tính theo biên bản mở niêm phong lập ngày 15-01-2025, xét không có giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

[8] Về các vấn đề khác:

- Đối với Công ty cổ phần Đ3 là pháp nhân thương mại được thành lập từ năm 2010, thuộc loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần hoạt động theo mô hình Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc. Quá trình điều tra xác định, đến thời điểm trước năm 2023, cổ đông có cổ phần tại Công ty Đ3 gồm có: Cù Đức Đ2, Trần Thị Toàn N3, Nguyễn Quang P1, Nguyễn Ngọc D4, Nguyễn Hữu H11, Lê Thị Thu H12, Tống Duy K1. Hội đồng quản trị của Công ty Đ3 gồm có: Ông Nguyễn Hữu H11 giữ chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị và 06 thành viên là cổ đông nêu trên. Việc Trần Văn Â, Nguyễn Thị Vân A và Vũ Thị Diệu T1 thực hiện hành vi trốn thuế chỉ là sự bàn bạc, thống nhất mang tính chất cá nhân để cùng thực hiện hành vi phạm tội. Công ty Đ3 không ban hành văn bản chỉ đạo hay có tài liệu phản ánh về việc họp, bàn bạc, thống nhất trong công ty để thực hiện hành vi trốn thuế. Trần Văn  bàn bạc, thống nhất với Nguyễn Thị Vân A và Vũ Thị Diệu T1 thực hiện hành vi trốn thuế vì động cơ, mục đích cá nhân của Trần Văn  mà không phải vì lợi ích của pháp nhân thương mại hay lợi ích của các cổ đông khác. Quá trình điều tra xác định, các cổ đông và Trần Văn  góp vốn (mua cổ phần) đầu tư vào Công ty Đ3 với hình thức thỏa thuận, giao ước cá nhân, không thực hiện chia cổ tức theo quy định của Luật Doanh nghiệp mà dưới hình thức cam kết, thỏa thuận ngoài với mức lợi nhuận bằng hoặc cao hơn mức lãi suất gửi tiết kiệm. Do không đủ căn cứ để xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại là Công ty Đ3 theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y không đề cập việc xử lý là phù hợp.

- Đối với Trần Minh T16 làm việc tại Công ty Đ3 từ ngày 01-3-2014 đến nay theo Hợp đồng lao động số 201 đã ký ngày 01-3-2014, nhiệm vụ được phân công: Kế toán theo dõi công nợ (phải trả người bán) và thực hiện các công việc khác tại Công ty Đ3. Quá trình điều tra xác định: Trần Minh T16 không biết và không tham gia thực hiện hành vi “trốn thuế” cùng các Trần Văn Â, Nguyễn Thị Vân A và Vũ Thị Diệu T1. Do đó, không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Trần Minh T16.

- Đối với Nguyễn Thành K2 và Nguyễn Tuấn A2 là nhân viên thị trường của Công ty Đ3 được giao nhiệm vụ bán hàng và phát triển thị trường. Quá trình điều tra, xác định: Nguyễn Thành K2 và Nguyễn Tuấn A2 không được phân công và không có trách nhiệm trong việc thực hiện xuất hóa đơn GTGT cho khách hàng. Nguyễn Thành K2 và Nguyễn Tuấn A2 không biết, không tham gia vào việc thực hiện che dấu doanh thu bán bê tông thương phẩm để trốn thuế, không được hưởng lợi gì từ hành vi trốn thuế của Trần Văn Â, Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1. Do đó, không có căn cứ để xem xét, xử lý đối với Nguyễn Thành K2 và Nguyễn Tuấn A2.

- Đối với các những người bán nguyên liệu sản xuất bê tông thương phẩm gồm xi măng, cát, sỏi, đá không rõ nguồn gốc, trôi nổi trên thị trường, không có hóa đơn giá trị gia tăng, bị cáo không quen biết những người này, không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra làm rõ trong vụ án này.

- Đối với 53 cá nhân mua bê tông thương phẩm của Công ty Đ3 nhằm phục vụ thi công công trình xây dựng của gia đình, những người này không biết, không liên quan đến hành vi trốn thuế của các bị cáo nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Văn  là người cao tuổi, có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định pháp luật. Bị cáo Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Â, Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1 phạm tội Trốn thuế

  2. Về hình phạt:

    - Áp dụng khoản 2, 4 Điều 200; điểm b, i, s, o, v khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự:

    Phạt bị cáo Trần Văn  500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

    Cấm bị cáo Trần Văn  đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh phải đóng thuế trong thời gian 02 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    - Áp dụng khoản 2, 4 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự

    Phạt bị cáo Nguyễn Thị Vân A 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

    Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ, hành nghề kế toán trong thời gian 01 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    - Áp dụng khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự

    Phạt bị cáo Vũ Thị Diệu T1 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

    Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ, hành nghề kế toán trong thời gian 01 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

  3. Về vật chứng, biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Trả lại cho Chi cục Thuế khu vực V1 số tiền 379.753.935 đồng do các bị cáo nộp để khắc phục hậu quả (số tiền này được chuyển từ số tài khoản tạm giữ của Công an tỉnh Y đến tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái cùng mở tại Phòng G Kho bạc Nhà nước Khu vực VIII).

    Tịch thu tiêu hủy 02 giấy niêm phong đã rách, đã qua sử dụng khi mở niêm phong máy tính theo biên bản mở niêm phong lập ngày 15/01/2025

    (Chi tiết đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-6-2025 giữa Công an tỉnh Y và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái)

    Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án toàn bộ các chứng từ, tài liệu năm 2023 của Công ty Đ3 liên quan đến việc thực hiện xuất hóa đơn, kê khai thuế, hạch toán, báo cáo tài chính.

  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Văn Â. Bị cáo Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP Yên Bái;
  • - Công an tỉnh Yên Bái;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - Bị cáo (3);
  • - Người có QL, nghĩa vụ liên quan (2);
  • - THA hình sự; Lưu hồ sơ, TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Thị Kim Tuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự về tội trốn thuế

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trốn thuế
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Â, Nguyễn Thị Vân A, Vũ Thị Diệu T1 phạm tội Trốn thuế 2. Về hình phạt: - Áp dụng khoản 2, 4 Điều 200; điểm b, i, s, o, v khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự: Phạt bị cáo Trần Văn  500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước. Cấm bị cáo Trần Văn  đảm nhiệm chức vụ, hành nghề hoặc làm công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh phải đóng thuế trong thời gian 02 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. - Áp dụng khoản 2, 4 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự Phạt bị cáo Nguyễn Thị Vân A 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ, hành nghề kế toán trong thời gian 01 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. - Áp dụng khoản 2 Điều 200; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 17, Điều 35 của Bộ luật Hình sự Phạt bị cáo Vũ Thị Diệu T1 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước. Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ, hành nghề kế toán trong thời gian 01 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger