Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 28/2025/HS-ST

Ngày: 28-5-2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thắng

Bà Lý Thị Tuyến

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quyết - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Đoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2025/TLST - HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lò Văn D; Sinh năm 1988 tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Đớ, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn P (đã chết) và bà Lù Thị X, sinh năm 1968; Vợ: Phìn Thị T, sinh năm 1991 (Là bị cáo trong cùng vụ án); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2025, tạm giam từ ngày 18/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L (Có mặt).
  2. Phìn Thị T; Sinh năm 1991 tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Đớ, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phìn Văn D1 (đã chết) và bà Phùng Thị S (đã chết); Chồng: Lò Văn D, sinh năm 1988 (Là bị cáo trong cùng vụ án); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2025, tạm giam từ ngày 18/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L (Có mặt).
  3. Lê Trung D2; Sinh năm 1976 tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản K, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê T1, sinh năm 1942 và bà Phạm Thị N, sinh năm 1947; Vợ: Pàn Thị P1, sinh năm 1990; Con: Có 01 con, sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;
  4. Nhân thân:

    Ngày 09/7/1998, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hiện đã được xóa án tích;

    Ngày 28/6/2000, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hiện đã được xóa án tích;

    Ngày 21/8/2007, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 06 tháng tù về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”, hiện đã được xóa án tích;

    Ngày 29/12/2009, bị cáo bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L đưa vào cơ sở giáo dục với thời hạn 24 tháng, hiện đã được xóa tiền sự.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/01/2025, tạm giam từ ngày 18/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L (Có mặt).

  5. Hoàng Đình M; Sinh năm 1974 tại tỉnh Lai Châu; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: Số nhà A, phố N kéo dài, phường N, quận C, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Đình Q (đã chết) và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1942; Vợ: Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1977; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

1. Về hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của các bị cáo Lò Văn D, Phìn Thị T, Lê Trung D2:

Do có quen biết nhau từ trước và biết Lê Trung D2 là người nghiện ma túy nên khoảng 19 giờ 15 phút ngày 10/01/2025, Lò Văn D gọi điện (cuộc gọi có ghi âm) cho Lê Trung D2 hỏi xem có mua Heroine không, Lê Trung D2 nhất trí mua 200.000 đồng, Lò Văn D mượn xe mô tô biển kiểm soát 25H1-01435 của chị Lường Thị T2 (là em dâu Lò Văn D) mang theo 01 gói Heroine đi đến trước cửa nhà Lê Trung D2 để bán cho D2 với giá 200.000 đồng. Số Heroine mua được Lê Trung D2 sử dụng hết. Số tiền bán Heroine mà có Lò Văn D đã chi tiêu cá nhân hết.

Đến khoảng 13 giờ 30 phút ngày 14/01/2025, Lò Văn D đưa 01 gói Heroine được gói bằng mảnh nilon trắng (bên trong có 02 gói nhỏ được gói bằng nilon màu xanh) cho vợ là Phìn Thị T để mang bán cho Lê Trung D2. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, T mượn xe mô tô biển kiểm soát 25H1- 01435 của chị Lường Thị T2 cầm theo gói Heroine Lò Văn D đưa đến gặp Lê Trung D2 tại nơi D2 đang ghi xổ số tại bản K, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu để bán với giá 300.000 đồng. Số tiền do bán H1 mà có, T đã chi tiêu hết 56.000 đồng, số tiền còn lại là 244.000 đồng đã bị Cơ quan điều tra thu giữ. Số Heroine mua được, Lê Trung D2 để vào trong túi áo khoác đang mặc với mục đích sử dụng. Hồi 17 giờ 55 phút cùng ngày, tổ công tác Công an tỉnh L kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ số Heroine trên.

2. Về hành vi đánh bạc của các bị cáo Lê Trung D2, Hoàng Đình M:

Lê Trung D2 làm đại lý xổ số cho Công ty xổ số kiến thiết tỉnh L nên biết người có nhu cầu đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề trái phép. Cuối năm 2024, khi đi họp lớp tại huyện T, tỉnh Lai Châu, Lê Trung D2 gặp lại bạn học cũ là Hoàng Đình M nên đã bàn bạc với M việc D2 sẽ bán số lô, số đề trái phép cho người chơi, nếu M nhận mua lại thì sẽ chuyển cho M để được hưởng lợi, M đồng ý. D2 và M thỏa thuận: D2 bán lô điểm với giá 23.000 đồng/điểm và chuyển lại cho M với giá 22.000 đồng/điểm; các số lô khác, số đề thì D2 chuyển lại cho M đúng như giá D2 đã bán cho người chơi. Hàng ngày, nếu M nhận số lô D2 đã bán cho người chơi thì M sẽ thông tin lại thì D2 sẽ ghi số đã bán tương ứng với số tiền ra tờ giấy rồi chụp gửi qua Zalo cho M. Việc đối chiếu kết quả thắng, thua căn cứ vào kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc hồi 18 giờ 30 phút hàng ngày, trong đó: Số lô điểm, lô xiên được so với 02 số cuối cùng của 27 giải, nếu trùng số đã mua thì người mua trúng và được trả 01 điểm lô bằng 80.000 đồng; lô xiên 02 được trả gấp 10 lần, lô xiên 03 được trả gấp 40 lần, lô xiên 04 được trả gấp 100 lần số tiền đánh; số đề 02 càng hoặc 03 càng được so với 02 số cuối hoặc 03 số cuối cùng của giải đặc biệt, nếu trùng là trúng thưởng, số đề 02 càng trả gấp 70 lần, số đề 03 càng trả gấp 400 lần so với số tiền bỏ ra đánh. Sau khi có kết quả xổ số thì tính ra tiền thắng, thua, khi nào số tiền mua bán số lô, số đề giữa 02 người đủ 10.000.000 đồng thì sẽ chuyển tiền cho nhau bằng hình thức chuyển khoản. Sau thỏa thuận trên, ngày 13/01/2025 D2, M đã thực hiện hành vi đánh bạc như sau:

Ngày 13/01/2025, D2 bán cho một số người không rõ lai lịch 160 điểm lô x 23.000 đồng/điểm = 3.680.000 đồng, 01 số cặp lô xiên 02-03 được 900.000 đồng, tổng số tiền bán số lô là 4.580.000 đồng, sau đó D2 chuyển lại cho M để D2 hưởng lợi 160.000 đồng/160 điểm lô. Kết quả mở thưởng xổ số kiến thiết Miền Bắc cùng ngày, trong số lô D2 chuyển cho M có các số lô điểm trúng thưởng là 75, 97, 16, 50 với tổng số điểm trúng là 100 điểm và lô xiên 02 trúng cặp số 97-16 với số tiền trúng là 150.000 đồng. Vì vậy, số tiền lô điểm trúng thưởng là 100 điểm x 80.000 đồng/điểm = 8.000.000 đồng; số tiền lô xiên trúng thưởng là 150.000 đồng x 10 lần = 1.500.000 đồng. Tổng số tiền trúng là 9.500.000 đồng. Do đó, tổng số tiền đánh bạc ngày 13/01/2025, D2, M phải chịu trách nhiệm hình sự là 14.080.000 đồng. Số tiền đánh bạc, trúng bạc các bị cáo D2, M chưa thanh toán cho nhau.

Ngày 14/01/2025, D2 đã bán các số lô cho một số người mua không rõ lai lịch 242 điểm lô x 23.000 đồng/điểm = 5.566.000 đồng, D2 chưa liên hệ với M về việc có nhận lại số lô D2 đã bán hay không thì bị Cơ quan Công an tỉnh L phát hiện vào hồi 17 giờ 55 phút cùng ngày (trước giờ mở thưởng xổ số M), cùng thời điểm bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của D2 như đã nêu trên.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về các vấn đề khác của vụ án: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận:

Thu giữ của bị cáo Lò Văn D gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus, màu hồng kèm sim là của bị cáo dùng để trao đổi mua bán ma túy với Lê Trung D2.

Thu giữ của bị cáo Phìn Thị T gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh kèm sim là của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội; số tiền 300.000 đồng do bán Heroine cho Lê Trung D2 mà có, bị cáo đã chi tiêu hết 56.000 đồng, còn lại 244.000 đồng Cơ quan điều tra đã thu giữ.

Thu giữ của bị cáo Lê Trung D2 gồm: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu hồng kèm sim và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu đen kèm sim là của bị cáo dùng để đánh bạc với Hoàng Đình M và trao đổi mua bán ma túy với Lò Văn D; số tiền 5.566.000 đồng Cơ quan điều tra thu giữ là tiền do đánh bạc ngày 14/01/2025 mà có; số tiền dùng đánh bạc với Hoàng Đình M ngày 13/01/2025 là 4.580.000 đồng (trong đó có 160.000 đồng hưởng lợi) bị cáo chưa thanh toán cho M và M cũng chưa thanh toán tiền thắng bạc là 9.500.000 đồng cho bị cáo.

Thu giữ của bị cáo Hoàng Đình M gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen kèm sim là của bị cáo dùng để đánh bạc với Lê Trung D2; số tiền Lê Trung D2 thắng bạc ngày 13/01/2025 là 9.500.000 đồng bị cáo chưa thanh toán cho D2 và D2 cũng chưa thanh toán tiền đánh bạc là 4.420.000 đồng (D2 hưởng lợi 160.000 đồng) cho bị cáo.

Theo lời khai của Lò Văn D, số Heroine bán cho Lê Trung D2 là do khoảng đầu tháng 01/2025 D2 mua của một người thanh niên không rõ nhân thân, lai lịch với giá 200.000 đồng tại đám ma ở bản C, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu. Ngoài lời khai duy nhất của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Kết quả điều tra xác định Lường Thị T2 có cho các bị cáo Lò Văn D, Phìn Thị T mượn xe mô tô biển kiểm soát 25H1-01435 nhưng T2 không biết D và T dùng vào việc phạm tội nên T2 không đồng phạm.

Kết quả điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những người đã đánh bạc bằng hình thức mua số lô, đề trái phép với Lê Trung D2 vào các ngày 13, 14/01/2025 nên không có cơ sở điều tra làm rõ.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 10/01/2025 của bị cáo Lê Trung D2, Công an tỉnh L đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo.

Bị cáo Hoàng Đình M thống nhất với bị cáo Lê Trung D2, nếu M nhận số lô, đề D2 đã bán cho người chơi thì M sẽ thông tin để D2 sẽ ghi số lô, đề đã bán tương ứng với số tiền ra tờ giấy rồi chụp gửi qua Zalo cho M. Do đó, ngày 14/01/2025, mặc dù D2 đã bán 242 điểm lô được 5.566.000 đồng nhưng M không biết và D2 chưa bảo M nhận số lô trên nên M không đồng phạm với D2 về lần đánh bạc ngày 14/01/2025.

Tại bản kết luận giám định số 179/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Lê Trung D2 có khối lượng 0,11gam là ma túy, loại Heroine.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSLC-P1 ngày 29/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lò Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Phìn Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Lê Trung D2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Hoàng Đình M về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lò Văn D, Phìn Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Lê Trung D2 phạm các tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Đánh bạc”; Bị cáo Hoàng Đình M phạm tội "Đánh bạc".

Về hình phạt chính:

Đối với bị cáo Lò Văn D: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2025.

Đối với bị cáo Phìn Thị T: Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phìn Thị T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2025.

Đối với bị cáo Lê Trung D2: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Trung D2 từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Trung D2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Lê Trung D2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 24 tháng đến 33 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2025.

Đối với bị cáo Hoàng Đình M: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự, khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Đình M 04 tháng 11 ngày tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2025. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thời hạn tù của bị cáo bằng thời gian đã bị tạm giam. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Hoàng Đình M nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 (đối với các bị cáo Lò Văn D, Phìn Thị T), khoản 5 Điều 249 (đối với bị cáo Lê Trung D2), khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự (đối với các bị cáo Lê Trung D2, Hoàng Đình M): Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự:

Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus, màu hồng kèm sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu hồng kèm sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu đen kèm sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen kèm sim của các bị cáo Lò Văn D, Lê Trung D2, Hoàng Đình M.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 244.000 đồng của bị cáo Phìn Thị T; 5.566.000 đồng của bị cáo Lê Trung D2.

Trả lại cho bị cáo Phìn Thị T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh kèm sim.

Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu xanh cùng toàn bộ phong bì niêm phong.

Truy thu nộp ngân sách Nhà nước của các bị cáo: Lò Văn D là 200.000 đồng; Phìn Thị T là 56.000 đồng; Lê Trung D2 là 4.580.000 đồng; Hoàng Đình M là 9.500.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tại phiên tòa lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ và phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Trong tháng 01/2025, tại bản K, xã K, huyện P, tỉnh Lai Châu và tại quận C, thành phố Hà Nội, các bị cáo Lò Văn D, Phìn Thị T, Lê Trung D2, Hoàng Đình M đã thực hiện hành vi cụ thể như sau:

Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 10/01/2025, tại trước cửa nhà bị cáo Lê Trung D2, bị cáo Lò Văn D đã bán trái phép 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng cho Lê Trung D2 để sử dụng và Lê Trung D2 đã sử dụng hết. Tiếp đến, khoảng 17 giờ 30 phút ngày 14/01/2025, bị cáo Lò Văn D và Phìn Thị T bán trái phép 0,11 gam Heroine với giá 300.000 đồng cho Lê Trung D2. Sau khi mua được H1, Lê Trung D2 chưa kịp sử dụng thì bị Công an tỉnh L phát hiện bắt quả tang.

Ngoài ra, bị cáo Lê Trung D2 còn 02 lần thực hiện hành vi đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề trái quy định Nhà nước, cụ thể: Lê Trung D2 01 lần đánh bạc với Hoàng Đình M vào ngày 13/01/2025 với tổng số tiền là 14.080.000 đồng; Ngày 14/01/2025 Lê Trung D2 01 lần đánh bạc với những người không rõ tên, tuổi địa chỉ với số tiền là 5.566.000 đồng. Như vậy, Lê Trung D2 phải chịu trách nhiệm hình sự 02 lần đánh bạc với tổng số tiền là 19.646.000 đồng; Hoàng Đình M phải chịu trách nhiệm hình sự 01 lần đánh bạc với số tiền là 14.080.000 đồng.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của các bị cáo Lò Văn D, Phìn Thị T và Lê Trung D2 đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Ngoài ra, hành vi của bị cáo Lê Trung D2, Hoàng Đình M đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích cá nhân nên vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn D đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Phìn Thị T đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Lê Trung D2 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Hoàng Đình M đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng, đây là vụ án đồng phạm giản đơn: Bị cáo Lò Văn D và Phìn Thị T đồng phạm về hành vi 01 lần bán 0,11 gam Heroine cho bị cáo Lê Trung D2, trong đó Lò Văn D là người khởi xướng và cùng bị cáo T là người thực hành. Bị cáo Lê Trung D2 và Hoàng Đình M đồng phạm với nhau về 01 lần đánh bạc ngày 13/01/2025 với số tiền là 14.080.000 đồng, trong đó Lê Trung D2 là người khởi xướng và cùng bị cáo Hoàng Đình M là người thực hành. Ngoài ra, bị cáo Lê Trung D2 còn thực hiện 01 lần đánh bạc với những người không rõ tên tuổi địa chỉ với số tiền 5.566.000 đồng. Vì vậy, các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Trung D2 phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” về tội “Đánh bạc” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Lê Trung D2: Bị cáo có bố đẻ là ông Lê T1 được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử và 01 lần bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, hiện đều đã được xóa tiền án, tiền sự. Bị cáo Hoàng Đình M phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo M được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, giáo dục cũng như công tác phòng ngừa chung trong xã hội. Bị cáo Hoàng Đình M có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có thể cho bị cáo được hưởng mức hình phạt tù dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự để bị cáo thấy được tính nhân đạo của Nhà nước ta mà cố gắng cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.

Do đó quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên để tăng cường tác dụng của hình phạt chính đối với tội “Đánh bạc”, cần phạt bổ sung các bị cáo Lê Trung D2, Hoàng Đình M.

[4] Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,11 gam Heroine thu giữ của Lê Trung D2, Cơ quan điều tra đã gửi toàn bộ để giám định, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus, màu hồng kèm sim là của bị cáo Lò Văn D; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu hồng kèm sim, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu đen kèm sim là của bị cáo Lê Trung D2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen kèm sim là của bị cáo Hoàng Đình M. Kết quả điều tra xác định, các bị cáo Lò Văn D, Lê Trung D2, Hoàng Đình M đã dùng các điện thoại trên vào việc phạm tội nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với số tiền do phạm tội mà có của các bị cáo: Phìn Thị T là 244.000 đồng; Lê Trung D2 là 5.566.000 đồng cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh kèm sim là của bị cáo Phìn Thị T. Kết quả điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo T theo Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với vật chứng còn lại sau giám định gồm: 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu xanh cùng toàn bộ phong bì niêm phong, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với tiền do phạm tội mà có, hiện các bị cáo đã chi tiêu, cụ thể Lò Văn D là 200.000 đồng, Phìn Thị T là 56.000 đồng cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước theo điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

Đối với tiền do đánh bạc mà có, tiền dùng vào đánh bạc của các bị cáo Lê Trung D2 và Hoàng Đình M chưa thanh toán cho nhau, cụ thể: Lê Trung D2 là 4.580.000 đồng; Hoàng Đình M là 9.500.000 đồng nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước theo điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a. b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, cần miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Lò Văn D, Phìn Thị T theo khoản 5 Điều 251; Lê Trung D2 theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Trung D2 với mức phạt 15.000.000 đồng; bị cáo Hoàng Đình M với mức phạt 10.000.000 đồng.

[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D, Phìn Thị T phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy"; bị cáo Lê Trung D2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Đánh bạc”; bị cáo Hoàng Đình M phạm tội "Đánh bạc".
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn D 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2025.
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phìn Thị T 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2025.
    3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Trung D2 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Trung D2 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự: Buộc bị cáo Lê Trung D2 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 25 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2025.
    4. Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38, khoản 3 Điều 54 Bộ luật hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Đình M 04 tháng 11 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2025. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 28/5/2025, thời hạn tù của bị cáo bằng thời gian đã bị tạm giam. Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Hoàng Đình M nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  3. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự:
    1. Phạt bị cáo Lê Trung D2 15.000.000 đồng.
    2. Phạt bị cáo Hoàng Đình M 10.000.000 đồng.
  4. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
    1. Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s plus, màu hồng kèm sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus, màu hồng kèm sim; 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A52s 5G, màu đen kèm sim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu đen kèm sim.
    2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 244.000 đồng của bị cáo Phìn Thị T; 5.566.000 đồng của bị cáo Lê Trung D2.
    3. Trả lại cho bị cáo Phìn Thị T: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu xanh kèm sim.
    4. Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng, 02 mảnh nilon màu xanh cùng toàn bộ phong bì niêm phong.
    5. (Theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 10 giờ 00 phút ngày 16/5/2025 giữa Công an tỉnh L và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu).

    6. Truy thu nộp ngân sách Nhà nước của các bị cáo:
      • Truy thu của bị cáo Lò Văn D 200.000 đồng.
      • Truy thu của bị cáo Phìn Thị T 56.000 đồng.
      • Truy thu của bị cáo Lê Trung D2 4.580.000 đồng.
      • Truy thu của bị cáo Hoàng Đình M 9.500.000 đồng.
  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Công an tỉnh Lai Châu (PC02, PV06);
  • - Cục THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 28/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger