|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 28/2025/HS-ST
Ngày 27-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Oanh và ông Nguyễn Quang Huy.
Thư ký phiên toà: Bà Phan Hoàng Thùy Linh – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc K, Sinh ngày 27/4/1991, tại tỉnh Yên Bái; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Quốc T (không xác định được năm sinh và nơi ở) và bà Nguyễn Thị H, Sinh năm 1966; Vợ là Tạ Thị Mai H1, sinh năm 1992 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2019; Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Bùi Thị M, sinh năm 1966.
Nơi ĐKHKTT: Tổ A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên – Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Phúc H2, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Số nhà D, đường L, tổ E, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc K thuê tầng 1 căn nhà PG3-12A Vincom Y thuộc tổ A, phường N, thành phố Y để mở quán C. Còn tầng 3 và tầng 4 căn nhà này là gia đình bà Bùi Thị M sinh sống. Do bản thân cần tiền, để giải quyết việc nợ cá nhân, sáng ngày 13/2/2025 K đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô Honda SH Mode, biển số 27B2-249.61 của bà Bùi Thị M để ở khu vực giáp cầu thang tầng 1 của căn hộ. Chiều ngày 13/02/2025 K đi lên tầng 3 thấy không có ai ở nhà, K nhìn thấy chìa khóa cửa tầng 3 để trên mặt bàn uống nước, K cầm lấy mang ra khu vực chợ Y phô tô thêm một chiếc chìa khóa khác rồi mang chìa khóa gốc về trả lại vị trí ban đầu.
Khoảng 17h30 ngày 15/02/2025, biết gia đình bà M đi vắng, K đã dùng chiếc chìa khóa phô tô mở cửa tầng 3 vào phòng lục soát, tìm và lấy được 1 chìa khóa xe mô tô để trong ngăn kéo tủ giày, sau đó K đi xuống tầng 1 mở khóa, trộm cắp xe mô tô Honda SH Mode biển số 27B2-249.61 điều khiển đi đến nhà anh Nguyễn Phúc H2 để lại làm tin và vay được của anh H2 15.000.000 đồng, sau đó mang tiền đi trả nợ và chi tiếu hết cho bản thân. Từ ngày 16 đến 17/2/2025 do không thấy xe mô tô ở nhà bà M đã nhiều lần hỏi K, do K trả lời quanh co, sau đó không liên lạc với bà M; ngày 18/2/2025 Bà M đã làm đơn tố giác K.
Vật chứng thu giữ: Ngày 18/2/2025 anh Nguyễn Phúc H2 đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra chiếc xe mô tô Honda SH Mode biển số 27B2-249.61.
Tại kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 06/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode, màu sơn trắng nâu, số máy: JK01E0219389, số khung: RLHJK0117MZ020236, xe cũ đã qua sử dụng, có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 15/02/2025 là 38.000.000 đồng.
Cáo trạng số 30/CT-VKSTP ngày 14/5/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái truy tố Nguyễn Quốc K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên Quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Về hình phạt: Áp dụng Điều 38; khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K từ 12 tháng đến 18 tháng tù;
Về hình phạt bổ sung: Không; Về trách nhiệm dân sự: Không;
Về vật chứng và tài sản thu giữ trong vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa kim loại sáng màu tại hai mặt của chìa khóa có in chữ LOCK
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì và xin được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Y, Điều tra viên, Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Y, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được tống đạt các văn bản hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai của họ. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/2/2025, tại tầng 1 căn nhà PG3-12A Vincom Y thuộc Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, Nguyễn Quốc K đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode, màu sơn trắng nâu, biển số 27B2-249.61 của bà Bùi Thị M với giá trị tài sản là 38.000.000 đồng (ba mươi tám triệu đồng). Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà M do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu về tài sản công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống cộng đồng. Động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo là vụ lợi cá nhân. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa tội phạm.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Quốc K là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định, lao động tự do, không có tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng, tài sản thu giữ:
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode, màu sơn trắng nâu, biển số 27B2-249.61 là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bà Bùi Thị M. Ngày 03/4/2025 cơ quan CSĐT Công an tỉnh Y đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe cho bà M là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
Bị hại bà Bùi Thị M đã nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại SH Mode, màu sơn trắng nâu, biển số 27B2-249.61 do K trộm cắp, bà M không có yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ngày 27/2/2025 K đã trả anh Nguyễn Phúc H2 số tiền 15.000.000 đồng, anh H2 không có yêu cầu, đề nghị đối với K về trách nhiệm bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 chìa khóa kim loại sáng màu tại hai mặt của chìa khóa có in chữ LOCK, là công cụ dùng vào việc phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Đối với Nguyễn Phúc H2, quá trình điều tra xác định H2 không biết chiếc xe Honda SH Mode mà Nguyễn Quốc K sử dụng làm tài sản để đặt làm tin khi vay tiền là tài sản do K trộm cắp mà có nên không xét việc xử lý Nguyễn Phúc H2 trong vụ án là phù hợp.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
[11] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Căn cứ Điều 38; khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
- Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 chìa khóa kim loại sáng màu tại hai mặt của chìa khóa có in chữ LOCK.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Y và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Yên Bái ngày 16/5/2025).
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Quốc K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ngày bản án được tống đạt hợp lệ; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Bùi Quang Trung |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Quốc Kiên phạm tội trộm cắp tài sản
