Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH BẮC KAN

Bản án số: 28/2025/HS - ST

Ngày: 27 - 6- 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bảo Thanh Toàn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Đức Đường và ông Nguyễn Tiến Tùng

Thư ký phiên toà: Ông Ma Văn Chung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Khoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn kết nối với điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh B xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 31/2025/TLST-HS, ngày 17 tháng 6 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST – HS, ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. HOÀNG HỮU D, sinh ngày: 20/9/2006 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Hữu Đ và con bà Hoàng Thị H; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: 10/4/2025 Hoàng Hữu D bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tại Bản án số 45/2025/HS-ST.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/3/2025 sau đó tạm giam cho đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh B.

2. NGUYỄN VIẾT T, sinh ngày: 15/5/2002 tại thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Viết M (đã chết) và con bà Phạm Thị H1; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 26/3/2025 sau đó tạm giam cho đến nay, có mặt tại điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh B.

* Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T là: Bà Sầm Thị Thu H2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (Có mặt).

* Bị hại:

  • - Anh Triệu Tài C, sinh năm 2006; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  • Trú tại: Thôn T, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
  • (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Anh Hoàng Doãn T1, sinh năm 2004; nghề nghiệp: Lao động tự do.
  • Nơi thường trú: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Nơi tạm trú và nơi ở: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Trịnh Minh T2, sinh năm 2000;
  • Trú tại: Số E, đường Q, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người làm chứng:

  • - Ông Triệu Văn L, sinh năm 1978 (Vắng mặt);
  • Trú tại: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Anh Dương Văn Đ1, sinh năm 1994 (Vắng mặt);
  • Trú tại: Thôn B, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

* Những người tham gia tố tụng khác:

  • - Cán bộ chiến sĩ bảo vệ phiên toà tại điểm cầu thành phần
  • + Ông Nguyễn Đức V - Cán bộ Trại Tạm giam Công an tỉnh B (Đội trưởng).
  • + Ông Nông Duy K - Cán bộ Trại Tạm giam Công an tỉnh B.
  • + Ông Hà Quảng C1 - Chiến sĩ Trại Tạm giam Công an tỉnh B.
  • + Ông Lý Kim D1 - Chiến sĩ Trại Tạm giam Công an tỉnh B.
  • + Ông Cà Văn M1 - Chiến sĩ Trại Tạm giam Công an tỉnh B.
  • Đều có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian từ ngày 11/3/2025 đến ngày 17/3/2025, Hoàng Hữu D và Nguyễn Viết T đã cùng nhau thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Đầu tháng 3/2025 Hoàng Hữu D và Nguyễn Viết T đến huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để xin làm công nhân tại các khu công nghiệp trên địa bàn nhưng chưa xin được việc và cùng nhau thuê trọ tại tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B. Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên Hoàng Hữu D nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS 36B6-951.46, dạng xe phân khối lớn của anh Triệu Tài C vì D thấy C hay đăng hình ảnh chiếc xe mô tô này lên mạng xã hội (C là bạn học cấp 1 với D). Khoảng 20h ngày 11/3/2025 D nói với T “Em có thằng bạn đang làm công nhân trên Bắc Ninh, nó có con xe phân khối lớn, để em gạ nó bán rồi anh đóng giả là người mua để nói chuyện với nó, em sẽ gạ nó mang xe sang bên này”. T hiểu ý của D là lừa C đem xe sang thị trấn B để chiếm đoạt nên đã đồng ý. Ngay sau đó, D gọi điện cho Triệu Tài C qua ứng dụng facebook với nội dung D có bạn làm cùng công ty muốn mua xe có đặc điểm như xe của C, sau đó D đưa điện thoại cho T nói chuyện trực tiếp với C về nội dung mua bán xe, C đề nghị phải được giá hơn 40.000.000₫ mới bán và được T đồng ý, T nói sáng mai đưa xe qua thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để giao dịch và được C nhất trí. Khoảng 10 giờ sáng ngày 12/3/2025, Triệu Tài C điều khiển chiếc xe mô tô BKS 36B6-951.46 đến điểm hẹn, lúc này D nói với T là “anh ở nhà để em ra tiếp chuyện Chính, nếu em gọi điện cho anh thì anh giả vờ vẫn chưa tan ca làm việc nhé” và được T đồng ý. Sau khi gặp C tại quán nước D hỏi C lấy giấy tờ xe để kiểm tra thông số xe mô tô. Sau khi thấy đặc điểm xe mô tô trùng khớp với đăng ký xe D giả vờ mượn xe của C đi ra quán phô tô mẫu giấy tờ mua bán xe để tạo lòng tin với C, rồi quay lại gọi điện cho T hỏi đã tan giờ làm chưa nhưng T nói là chưa tan ca chờ thêm một tý nhưng thực chất lúc này T vẫn đang ở nhà trọ. Trong quá trình chờ T, C có điều khiển xe đi rửa và để đăng ký xe (bản gốc) trên bàn uống nước, thấy vậy D đã cất vào túi quần, khoảng 15 phút sau C điều khiển xe quay lại thì D nói dối là cho D mượn xe để đi đón bạn mua xe về đây giao dịch và được C đồng ý. Sau khi lấy được xe và giấy tờ xe của C, D gọi điện cho T ra đường chờ rồi điều khiển xe đến đón T đi thẳng về thành phố T đến quán “Tuấn B” bán cho anh Trịnh Minh T2 được 23.000.000₫. Số tiền này D chia cho Nguyễn Viết Trọng 210.000đ, sau đó hai người cùng thuê nhà nghỉ rồi ăn chơi, chi tiêu chung cùng nhau hết số tiền chiếm đoạt. Chính sau khi cho D mượn xe nhưng không thấy D quay lại nên đã nhiều lần gọi điện thoại cho D nhưng D nói dối là đang đón bạn, chờ bạn rút tiền, sau đó cắt liên lạc. Sau nhiều lần không liên lạc được với D, ngày 24/3/2025, Triệu Tài C đã viết đơn trình báo lên Công an thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngày 26/3/2025 Nguyễn Viết T đến Công an thị trấn B đầu thú. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm xe mô tô trên nhưng đến nay vẫn chưa thu giữ được.

Tại kết luận định giá tài sản số: 19/KL- HĐĐGTS ngày 27/3/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại YZZF155 BKS 36B6-951.46 có giá trị là 31.500.000đ (ba mươi mốt triệu năm trăm nghìn đồng) tại thời điểm bị xâm hại.

Vụ thứ hai:

Khoảng 18 giờ ngày 17/3/2025, Hoàng Hữu D đi bộ đến nhà Nguyễn Viết T tại thôn N, xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn chơi, tại đây D nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác để lấy tiền tiêu sài cá nhân. Do trước đó D đã từng nhắn tin trao đổi mua bán xe với anh Hoàng Doãn T1 nên D sử dụng điện thoại di động vào mạng xã hội tải hình ảnh một chiếc xe wave, nhãn hiệu HONDA rồi nhắn tin cho Hoàng Doãn T1 nội dung “Em có một con xe của thằng bạn đang cắm ở quán nó muốn bán với giá hơn 6.000.000đ anh mua thì lên xem”, đồng thời gửi ảnh chiếc xe cho Hoàng Doãn T1 xem. Hai bên trao đổi giá cả, thông tin về xe sau đó Hoàng Doãn T1 đồng ý mua chiếc xe đó với giá 6.000.000đ và hẹn nhau khoảng 23 cùng ngày T1 sẽ đến Bắc Kạn xem xe, giao dịch. Sau khi đưa ra thông tin gian dối với Hoàng Doãn T1, Hoàng Hữu D đã nói với Nguyễn Viết T “Tí nữa có người ở Thái Nguyên lên mua xe mô tô anh cứ nói là xe của anh đang cắm 5.000.000₫ ở quán nhé”. Nghe D nói vậy Nguyễn Viết T hiểu ý là D đang lừa một người khác để lấy tiền nên T đồng ý. Sau khi gửi định vị vị trí cho Hoàng Doãn T1 thì khoảng 23 giờ ngày 17/3/2025, Hoàng Doãn T1 cùng bác là Triệu Văn L đi xe ô tô của L đến nhà Nguyễn Viết T. Tại nhà Nguyễn Viết T, D nói với Hoàng Doãn T1 “bây giờ xe đang cắm ở quán gần cầu T thuộc phường X, thành phố B anh chuyển trước cho em 5.000.000 đồng để em đi rút xe ra, sau đó anh đưa cho Nguyễn Viết T thêm 1.000.000 đồng thì anh mang xe về”. Quá trình nói chuyện Hoàng Doãn T1 có hỏi Nguyễn Viết T là “xe của anh à?” thì Nguyễn Viết T trả lời “ừ”. Vì tin tưởng những thông tin mà D và Nguyễn Viết T nói là thật nên Hoàng Doãn Trọng C2 số tiền 5.000.000đ cho Hoàng Hữu D nhưng vì tài khoản của D bị lỗi nên D bảo Hoàng Doãn Trọng chuyển tiền vào tài khoản của Dương Văn Đ1. Hoàng Doãn T1 đã mượn tiền của bác Triệu Văn L và nhờ bác chuyển số tiền 5.000.000₫ đến tài khoản Dương Văn Đ1 theo yêu cầu của D. Sau khi xác định T1 đã chuyển tiền, D giả vờ đi lấy xe nhưng thực chất là đi bộ về nhà riêng của mình, tầm khoảng 30 phút sau thì nhắn tin hẹn Hoàng Doãn T1 lên phường X, thành phố B lấy xe nhưng sau khi T1 đến nơi gọi điện nhắn tin thì D tắt máy, cắt liên lạc. Khoảng 01h30 phút ngày 18/3/2025, D gọi điện cho Dương Văn Đ1 nói chuyển lại cho D số tiền 5.000.000₫ nãy D chuyển nhờ vào số tài khoản và được Đình chuyển lại vào số tài khoản của D. Sau khi có tiền D sang nhà Nguyễn Viết T rủ T lên thành phố B uống rượu, ăn chơi với nhau nhưng T không đi. Khi biết D đã có tiền T yêu cầu D chuyển cho T 500.000đ và được D chuyển cho 500.000đ vào tài khoản. Hoàng Doãn T1 không liên lạc được với Hoàng Hữu D nên nghĩ mình bị lừa và trình báo cơ quan công an. Ngày 18/3/2025 Hoàng Hữu D trả lại Hoàng Doãn T1 số tiền 2.000.000₫ đã chiếm đoạt.

Tổng giá trị tài sản của Hoàng Hữu D và Nguyễn Viết T đã chiếm đoạt là 36.500.000₫

Tại Cơ quan điều tra, Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi của mình về thời gian, thủ đoạn gian dối và tài sản mà các bị cáo đã chiếm đoạt và mục đích chiếm đoạt tài sản của mình.

Hoàng Hữu D khai: Do không có tiền tiêu sài nên tối ngày 11/3/2025, khi đang cùng Nguyễn Viết T ở nhà trọ tại thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc D đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại YZZF155, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 36B6 – 951.46 của anh Triệu Tài C. D đề nghị Nguyễn Viết Trọng Đ2 giả là có người muốn mua xe có đặc điểm như xe của C nhằm lừa C mang xe đến thị trấn B để thuận lợi cho việc chiếm đoạt. Sáng ngày 12/3/2025, anh Triệu Tài C điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B6 – 951.46 đến. D cùng T đã phối hợp lừa đảo chiếm đoạt xe mô tô của C và bán cho anh Trịnh Minh T2 được số tiền 23.000.000đ. Số tiền chiếm đoạt được D chia cho Trọng 210.000đ, sau đó cả hai cùng nhau tiêu sài cá nhân hết. Đến tối ngày 17/3/2025 tại nhà Nguyễn Viết T thuộc thôn N, xã H, huyện C, Hoàng Hữu D tiếp tục nảy sinh ý định lừa đảo tiếp nên đã sử dụng điện thoại cá nhân truy cập vào mạng internet tải hình ảnh 01 chiếc xe Wave, nhãn hiệu HONDA rồi nhắn tin cho Hoàng Doãn T1 nội dung có xe của bạn đang cắm tại quán cầm đồ nếu Hoàng Doãn T1 muốn mua thì lên trả 5.000.000đ cho quán cầm đồ và cho chủ xe 1.000.000₫ nữa thì được mang xe về và được Hoàng Doãn T1 đồng ý. Hai bên hẹn tầm 23 giờ đêm ngày 17/3/2025 sẽ đến Bắc Kạn để mua xe. Để tăng sự tin tưởng D đề nghị Nguyễn Viết Trọng Đ2 giả là người cắm xe; D nói với Nguyễn Viết T “Tí nữa có người ở Thái Nguyên lên mua xe anh cứ nói là xe của anh đang cắm ở hiệu cầm đồ, nếu trả 6.000.000đ thì cho nhổ xe về” và được Nguyễn Viết T đồng ý. Khi Hoàng Doãn T1 đến nhà Nguyễn Viết T thì D đã phối hợp với Nguyễn Viết T nói dối để Hoàng Doãn T1 chuyển tiền cho D trước 5.000.000đ để D ra hiệu cầm đồ lấy xe về. Sau khi Hoàng Doãn T1 chuyển tiền thì D đã chiếm đoạt và cắt liên lạc luôn với Hoàng Doãn T1.

Nguyễn Viết T khai: Tối ngày 11/3/2025, khi được Hoàng Hữu D đề nghị cùng thực hiện lừa đảo chiếm đoạt chiếc xe mô tô biển kiểm soát 36B6 – 951.46 của Triệu Tài C để lấy tiền tiêu sài; Trọng hiểu và đồng ý đóng giả làm người mua xe với giá cao trực tiếp nói chuyện với anh C để lừa C mang xe mô tô từ Bắc Ninh sang thị trấn B nhằm chiếm đoạt. Bản thân T không có nhu cầu và không có tiền để mua xe. Sau khi chiếm đoạt cả hai đã bán xe cho anh Trịnh Minh T2 tại thành phố T được 23.000.000đ. Nguyễn Viết T được D chia cho số tiền 210.000đ, sau đó hai người cùng nhau tiêu sài cá nhân hết số tiền chiếm đoạt. Đến tối ngày 17/3/2025 tại nhà riêng của mình, khi được D tiếp tục nhờ đóng giả làm người có xe đang cắm ở hiệu cầm đồ để lừa Hoàng Doãn T1 ở Thái Nguyên lên mua; T1 hiểu và đồng ý. Bản thân T1 không có chiếc xe nào đang cầm cố nhưng vẫn phối hợp với D đưa ra thông tin gian dối nhằm tạo lòng tin đối với Hoàng Doãn T1 để D chiếm đoạt tiền của Hoàng Doãn T1. Sau khi chiếm đoạt được 5.000.000đ, D đã chia cho Nguyễn Viết T 500.000₫.

Lời khai của Hoàng Hữu D phù hợp với lời khai Nguyễn Viết T, phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 17/CT - VKSCM, ngày 16 tháng 6 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, Điều 174/BLHS.

Điều luật có nội dung:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

Tại phiên toà:

  • * Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T.
  • - Về tội danh: Đề nghị hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết Trọng phạm T3 “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • - Về hình phạt chính:
  • + Áp dụng khoản 1, Điều 174; các điểm b, s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17, Điều 38; Điều 50, Điều 56, Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu D từ 24 tháng đến 30 tháng tù.
  • Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 09 (chín) tháng tù của Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 10/4/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Hoàng Hữu D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là từ 33 đến 39 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/3/2025.
  • + Áp dụng khoản 1, Điều 174; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/3/2025.
  • - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48/BLHS; Các Điều 584; 585; 856; 587; 589/BLDS. Các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại, cụ thể: Bồi thường cho bị hại Triệu Tài C số tiền 31.500.000đ, trong đó mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 15.750.000đ. Bồi thường cho bị hại Hoàng Doãn T1 số tiền 5.000.000đ, trong đó mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.500.000₫
  • Quá trình giải quyết vụ án thể hiện các bị hại và các bị cáo đã thống nhất được với nhau về việc bồi thường, đề nghị HĐXX ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận này.
  • - Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Người bào chữa trình bày lời bào chữa:

Việc khởi tố, truy tố, xét xử bị các cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Nhất trí với quan điểm luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Về mức hình phạt, đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo Hoàng Hữu D mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát và tổng hợp hình phạt theo quy định; Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát. Bên cạnh đó, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo và đề nghị miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho các bị cáo D, T. Đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường của các bị cáo D, T và các bị hại về việc bồi thường thiệt hại.

Các bị cáo D, T nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như viện kiểm sát đã truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng quy định.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại Triệu Tài C, Hoàng Doãn T1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trịnh Minh T2; người làm chứng Triệu Văn L, Dương Văn Đ1. Tuy nhiên họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra. Bị hại Triệu Tài C, Hoàng Doãn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trịnh Minh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt theo quy định. Việc vắng mặt của những người này tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Do cần tiền để chi tiêu cá nhân, với mục đích chiếm đoạt đã có từ trước, bằng thủ đoạn gian dối, lợi dụng lòng tin của anh Triệu Tài C, anh Hoàng Doãn T1; Từ ngày 11/3/2025 đến ngày 17/3/2025, Hoàng Hữu D và Nguyễn Viết T đã cùng nhau thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản với thủ đoạn như sau: Ngày 11/3/2025 Hoàng Hữu D đưa ra thông tin gian dối là có người muốn mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 36B6-951.46 của anh Triệu Tài C với giá cao, Nguyễn Viết Trọng Đ2 giả là người mua xe làm cho anh Triệu Tài C tin tưởng đem xe đến tổ dân phố T, thị trấn B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc để giao dịch. Khi C đến thì D, T tiếp tục phối hợp đưa ra những thông tin gian dối về việc chờ người mua xe chưa tan ca và mượn xe Chính đi đón người mua xe để tiếp cận tài sản rồi chiếm đoạt. Sau khi chiếm đoạt xe mô tô các bị cáo D, T đã bán cho Trịnh Minh T2 được số tiền 23.000.000 đồng; D chia cho T 210.000 đồng và cùng nhau nhau tiêu sài hết số tiền chiếm đoạt.

Bằng thủ đoạn tương tự, ngày 17/3/2025, qua mạng xã hội facebook, Hoàng Hữu D tiếp tục có hành vi gian dối bằng cách sử dụng điện thoại di động vào mạng xã hội tải hình ảnh một chiếc xe wave, nhãn hiệu HONDA gửi cho Hoàng Doãn T1. Đồng thời D phối hợp cùng Nguyễn Viết T đưa ra thông tin gian dối là xe của Nguyễn Viết T đang cầm cố cần bán để Hoàng Doãn T1 tin tưởng đến xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giao dịch. Khi Hoàng Doãn T1 đến thì D và Nguyễn Viết T tiếp tục phối hợp đưa ra thông tin gian dối về việc Nguyễn Viết T đang cầm cố xe; D đề nghị Hoàng Doãn T1 chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng theo yêu cầu của D nhưng khi chuyển khoản xong thì D đã chiếm đoạt. Số tiền chiếm đoạt được của Hoàng Doãn T1, D đã chia cho Nguyễn Viết T 500.000 đồng, số còn lại Dương tiêu sài hết. Tổng giá trị tài sản của Hoàng Hữu D và Nguyễn Viết T đã chiếm đoạt là 36.500.000₫

Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1, điều 174/BLHS là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét tính chất hành vi các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án:

Các bị cáo là đồng phạm thông thường, giản đơn, có sự phân công để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Hoàng Hữu D đóng vai trò chính; D là người khởi xướng, thực hành; Bị cáo Nguyễn Viết Trọng Đ2 vai trò là người giúp sức. Hai bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội. Khi xem xét quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 17, Điều 58/BLHS để xét đến tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm để đưa ra hình phạt theo quy định của pháp luật.

[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thấy:

  • - Đối với bị cáo Nguyễn Viết T:
  • + Bị cáo có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự.
  • + Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
  • + Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; “Đầu thú”. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51/BLHS.
  • - Đối với bị cáo Hoàng Hữu D:
  • + Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo đã bị xét xử 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 10/4/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo không tốt, bị cáo có nhân thân xấu.
  • + Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng tại điểm g khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên”.
  • + Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại quy định tại các điểm b, s, khoản 1, Điều 51/BLHS.
  • - Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo HĐXX thấy: Cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian phù hợp mới có thể cải tạo và giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt cho xã hội.
  • - Tại khoản 5 Điều 174/BLHS quy định về hình phạt bổ sung đối với người phạm tội, tuy nhiên xét hoàn cảnh gia đình bị cáo Nguyễn Viết T thuộc hộ nghèo, các bị cáo đều là lao động tự do, không có tài sản riêng có giá trị, việc áp dụng hình phạt bổ sung là không khả thi. Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Trách nhiệm dân sự:

Các bị hại trong vụ án đều có ý kiến yêu cầu các bị cáo D, T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường, cụ thể:

  • - Bị hại Triệu Tài C bị chiếm đoạt tài sản trị giá 31.500.000đ. Chính yêu cầu các bị cáo D, Trọng liên đới bồi thường số tiền 31.500.000đ, trong đó mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 15.750.000₫.
  • - Bị hại Hoàng Doãn T1 bị chiếm đoạt số tiền 5.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án Hoàng Hữu D đã bồi thường số tiền 2.000.000đ. Nay Hoàng Doãn T1 tiếp tục yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường số tiền 5.000.000đ (gồm: 3.000.000đ bị thiệt hại chưa bồi thường và 2.000.000đ tiền công đi lại). Trong đó Hoàng Doãn T1 yêu cầu mỗi bị cáo có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.500.000đ.
  • - Quá trình giải quyết vụ án thể hiện các bị hại và các bị cáo đã thống nhất được với nhau về việc bồi thường, đề nghị HĐXX ghi nhận sự thống nhất thỏa thuận này. Xét thấy sự thỏa thuận của các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T và các bị hại Triệu Tài C, Hoàng Doãn T1 là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội, do đó cần ghi nhận.

[7] Về vấn đề khác:

Đối với ông Triệu Văn L là bác của bị hại Hoàng Doãn T1. Tối ngày 17/3/2025, ông L được Hoàng Doãn T1 nhờ chở bằng xe ô tô lên xã H, huyện C, tỉnh Bắc Kạn để mua xe. Hoàng Doãn T1 có nhờ Triệu Văn L chuyển số tiền 5.000.000đ vào tài khoản của Dương Văn Đ1 theo yêu cầu của bị cáo Hoàng Hữu D. Quá trình giải quyết vụ án Triệu Văn L xác định tự nguyện chở Hoàng Doãn T1 lên Bắc Kạn, tự nguyện cho Trọng mượn số tiền 5.000.000đ, xác định đây là giao dịch dân sự tự nguyện của hai người. Triệu Văn L và Hoàng Doãn T1 đều xác định tự thoả thuận, không yêu cầu xem xét giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Đối với anh Trịnh Minh T2 là chủ cửa hàng mua bán xe mô tô “T2 blue” đã mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại YZZF155, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát: 36B6 – 951.46 với giá 23.000.000 đồng vào ngày 12/3/2025. Sau khi mua xong T2 đã bán cho một người nam giới tên là T4 không rõ địa chỉ, năm sinh và số điện thoại với giá 24.000.000 đồng, hiện nay T2 không biết chiếc xe đó đang ở đâu. Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm nhưng đến nay vẫn chưa thu giữ được chiếc xe. Khi mua xe T2 không biết là xe do các bị cáo phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T2 là có căn cứ.

Đối với ông Dương Văn Đ1 là người nhận được số tiền 5.000.000đ chuyển vào tài khoản ngày 17/3/2025. Tuy nhiên, khi Hoàng Hữu D đề nghị Hoàng Doãn T1 chuyển khoản vào tài khoản của Đ1 thì Đ1 không biết số tiền này do ai chuyển đến; khi Hoàng Hữu D báo lại Đ1 mới biết là D chuyển nhờ và đã chuyển số tiền 5.000.000₫ này cho D. Bản thân Đ1 không được hưởng lợi và không biết số tiền này là tiền do Hoàng Hữu D phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Dương Văn Đ1 là có căn cứ.

[8] Về quan điểm truy tố và đề nghị của Viện kiểm sát; lời bào chữa người bào chữa cho bị cáo:

Xét thấy quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, người bào chữa cho các bị cáo D, T1 về việc giải quyết vụ án là có căn cứ. Về mức hình phạt: Hội đồng xét xử sẽ căn cứ các quy định của pháp luật để quyết định.

[9] Về án phí:

Bị cáo Hoàng Hữu D là đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Bị cáo Nguyễn Viết T thuộc hộ nghèo. Các bị cáo đều có đơn xin miễn án phí, được miễn án phí theo quy định tại khoản 2, Điều 136/BLTTHS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

VÌ CÁC LẼ TRÊN,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T đều phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    • - Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; các điểm b, s, khoản 1, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17, Điều 38; Điều 50, Điều 56, Điều 58/BLHS. Xử phạt bị cáo Hoàng Hữu D 24 (Hai mươi tư) tháng tù.
    • Tổng hợp hình phạt của Bản án này với hình phạt 09 (chín) tháng tù của Bản án số 45/2025/HS-ST ngày 10/4/2025 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo Hoàng Hữu D phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 18/3/2025.
    • - Căn cứ vào khoản 1, Điều 174; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 17, Điều 38; Điều 50; Điều 58/BLHS: Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/3/2025.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48/BLHS; Các Điều 584; 585; 856; 587; 589/BLDS:
    • - Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T và bị hại Triệu Tài C về việc bồi thường số tiền 31.500.000đ (Ba mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Buộc các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Triệu Tài C số tiền 31.500.000đ (Ba mốt triệu năm trăm nghìn đồng). Trong đó mỗi bị cáo (D, T) phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 15.750.000đ (Mười lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
    • - Ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T và bị hại Hoàng Doãn T1 về việc bồi thường số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Buộc các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T phải có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại cho anh Hoàng Doãn T1 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng). Trong đó mỗi bị cáo (D, T1) phải có trách nhiệm bồi thường số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
    • “Việc thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 357/BTDS. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.”
  4. Án phí: Căn cứ khoản 2, Điều 136/BLTTHS và Điều 12, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T.

    “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứu Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Các bị cáo Hoàng Hữu D, Nguyễn Viết T có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại Triệu Tài C, Hoàng Doãn T1; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trịnh Minh T2 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - VKSND huyện Chợ Mới (3);
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ, Công an tỉnh Bắc Kạn (2);
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - Bị cáo (2);
  • - Người có QLNVLQ (1);
  • - TAND tỉnh Bắc Kạn (1);
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới (1);
  • - Thi hành án hình sự (1);
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Bảo Thanh Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 28/2025/HS - ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 28/2025/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HHD+NVT-28-27.6.2025
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger